Có những con người sinh ra đã phải “đi qua bóng tối”. Nhưng kỳ lạ thay, chính họ lại trở thành “ánh sáng” cho người khác. Cuộc đời chị Đặng Thị Huế là một hành trình như thế. Từ đứa con gái mang di chứng chất độc da cam, sống lặng lẽ nơi góc nhà quê biển, đến người phụ nữ mù nuôi lớn bốn đứa con và cưu mang thêm những phận đời bất hạnh khác bằng chính đôi bàn tay tẩm quất của mình.

Cơn gió mát trong tâm hồn
(Ảnh có chỉnh sửa kỹ thuật một phần nhỏ từ A.I)
Năm 1975, đất nước thống nhất, một người lính trở về từ chiến trường trong niềm vui đoàn tụ của quê hương. Ông còn nguyên vẹn hình hài, tưởng như chiến tranh đã đi qua mà không lấy mất đi phần nào thân thể của ông, như bao đồng đội là thương binh khác. Nhưng nào ai ngờ, những tháng ngày hành quân dưới bầu trời “quánh mùi” hóa chất Dioxin lại để lại một vết thương âm thầm và đau đớn hơn mọi vết thương trên thân thể.
Đứa con gái đầu lòng của ông, chị Đặng Thị Huế (1976) cất tiếng khóc chào đời với đôi mắt chỉ toàn một màu đen đặc. Chị không nhìn thấy ánh sáng. Không nhìn thấy gương mặt mẹ cha. Không nhìn thấy những cánh đồng lúa xanh quê nhà, và đau hơn nữa, đến đời cháu nội của ông, di chứng nghiệt ngã ấy vẫn chưa chịu buông tha, khi cháu “có lớn mà chẳng có khôn”.
Ở một miền quê nghèo, nơi người ta còn chật vật với cơm áo từng ngày, sự xuất hiện của một đứa trẻ mù gần như là dấu chấm hết cho những giấc mơ. Tuổi thơ chị Huế quẩn quanh bên góc nhà, sân đất và mảnh vườn nhỏ. Bạn bè ríu rít đến trường, còn chị chỉ biết ngồi nghe tiếng guốc dép xa dần ngoài ngõ. Những ngày ấy, chị sống bằng sự chở che của cha mẹ và bằng đôi tai nhạy cảm lắng nghe cuộc đời.
Mãi đến năm 17 tuổi, chị mới dám bước ra khỏi lũy tre làng để theo cha đến sinh hoạt tại Hội Người mù tỉnh Thái Bình (cũ). Đó là lần đầu tiên cô gái mù hiểu rằng ngoài bóng tối còn có một thế giới khác, nơi người ta có thể học, có thể lao động và có thể sống như một con người đúng nghĩa. Ở đó, chị được học chữ nổi Braille.
Từ những dấu chấm li ti dưới đầu ngón tay, một cánh cửa mới mở ra. Chị học chẻ tăm, bện chổi, học cách tự chăm sóc bản thân rồi học nghề tẩm quất, massage. Những ngón tay của chị như có linh cảm đặc biệt. Chỉ cần chạm vào là biết chỗ nào đau, chỗ nào nhức mỏi. Người ta bảo đôi mắt mất đi thì xúc giác sẽ thay thế. Có lẽ đúng như thế, nhưng để sống được bằng nghề, đâu dễ dàng.
Những năm ấy, biết nghề rồi, chị Huế ôm chiếc chăn mỏng, vài bộ quần áo cũ cùng chiếc gậy dò đường đi khắp vùng biển Cồn Vành, Cồn Đen, Cồn Tiên để tẩm quất cho khách du lịch. Một người phụ nữ mù, lặn lội giữa gió biển mùa đông buốt cắt, mùa hè nắng cháy rát da. Có những hôm khách ít, chị ngồi co ro trong căn phòng trọ chật hẹp nghe tiếng sóng biển ngoài xa mà nuốt nước mắt vào trong. Có hôm mưa bão ập tới, chị phải ôm đồ nghề chạy giữa gió cát mịt mù, vừa đi vừa dò dẫm tìm đường bằng cây gậy nhỏ.
Người sáng mắt kiếm sống đã khó, người mù kiếm sống còn khó gấp trăm lần, nhưng chị không bỏ cuộc. Từng đồng tiền nhỏ kiếm được từ đôi bàn tay dẻo dai ấy được chị chắt chiu như nhặt từng hạt cát giữa biển khơi. Có chút vốn liếng, chị trở về quê ở thôn Trung Quý, xã Lê Lợi, mở một tiệm tẩm quất nhỏ. Căn nhà đơn sơ ngày ấy chẳng có gì ngoài mấy chiếc giường gỗ, vài chiếc khăn cũ sạch sẽ và một người phụ nữ mù luôn nở nụ cười hiền lành với khách.
Năm 1999, hạnh phúc gõ cửa. Chị kết hôn rồi sinh hai cô con gái kháu khỉnh. Người ta tưởng cuộc đời cuối cùng cũng đã thương chị sau quá nhiều mất mát. Nhưng số phận dường như vẫn muốn thử lòng người đàn bà ấy thêm lần nữa, cuộc hôn nhân đổ vỡ. Người phụ nữ mù bỗng chốc phải làm cả cha lẫn mẹ. Một mình nuôi hai đứa con nhỏ, một mình gánh vác cơm áo bằng nghề tẩm quất. Có những đêm chị thức đến khuya để làm việc, sáng lại dậy sớm dòm dẫm cây gậy trắng đưa con đi học. Tiền học, tiền ăn, tiền thuốc… tất cả đè nặng lên đôi vai gầy.
Vất vả là thế, nhưng chưa bao giờ người ta nghe chị than thân trách phận. Ở chị luôn có một sự bình thản kỳ lạ. Như thể cuộc đời có nghiệt ngã đến đâu, chị vẫn chọn cách dịu dàng với nó.
Không chỉ nuôi con mình, chị còn dang tay cưu mang thêm những số phận khác. Anh Th. ở Đông Hưng bị khuyết tật vận động, chị K. từ Hòa Bình cũng bị khiếm thị, được chị đón về sống cùng một mái nhà. Họ cùng ăn, cùng ở, cùng làm nghề với nhau như ruột thịt. Căn nhà nhỏ của chị Huế dần trở thành nơi trú ngụ của những phận người bị cuộc đời bỏ quên.
Rồi trong những ngày khó khăn ấy, chị lại có thêm hai đứa con nữa, tuy không cùng máu mủ nhưng đầy nghĩa tình.

Chị Huế hạnh phúc khi có 4 cô công chúa.
(Ảnh do nhân vật cung cấp)
Hai cháu Thùy Linh và Tú Uyên là bạn học của hai con chị. Hoàn cảnh các cháu đặc biệt khó khăn nên thường sang nhà chị học bài. Ban đầu chỉ là bữa cơm ăn chung, rồi thêm chiếc áo mới lúc đông về, vài lời hỏi han mỗi khi trái gió trở trời… Tình thương của người mẹ mù cứ thế lặng lẽ phủ lên những đứa trẻ thiếu thốn hơi ấm gia đình, để rồi từ lúc nào chẳng hay, các cháu gọi chị là “Mẹ”. Một tiếng gọi giản dị mà khiến lòng người nhói lên. Bởi không phải ai sinh con ra cũng làm được mẹ. Nhưng có những người đàn bà dù cuộc đời đầy “bóng tối” vẫn đủ sức trở thành nơi nương tựa cho người khác.
Rồi thời gian cũng trả công cho nghị lực. Tiếng lành đồn xa về “bàn tay ma thuật” biết “chữa lành” các cơn đau xương khớp, đau cơ đã hút khách tìm đến tiệm ngày một đông. Tay nghề của chị Huế được người nọ truyền tai người kia. Từ một cơ sở nhỏ ở quê, chị mở thêm cơ sở tại Thái Diên, tạo việc làm cho nhiều người khuyết tật khác.
Những đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi và lòng tự trọng đã giúp chị xây được một ngôi nhà khang trang, rộng rãi, nơi luôn đầy ắp tiếng cười. Hai cô con gái ruột của chị giờ đã trưởng thành. cháu Hoàng Mỹ Tâm theo học tại Đại học Quốc gia, khoa Thiết kế. cháu Hoàng Thanh Thảo là sinh viên Đại học Y Hà Nội. Hai cô con nuôi cũng được chị nâng đỡ để có cơ hội đi lao động ở nước ngoài, tìm cho mình một tương lai tốt đẹp hơn.
Người đàn bà mù năm nào giờ đây không chỉ tự nuôi sống bản thân mà còn nâng đỡ biết bao cuộc đời khác bước qua mặc cảm và đói nghèo.
Chiều Đồng Châu lộng gió. Biển vẫn rì rào như những năm tháng cũ, trong căn nhà đầy tiếng nói cười ấy, chị Huế ngồi lặng lẽ xoa đôi bàn tay đã cho chị được sống vì nghề, còn đôi mắt chị vẫn chìm trong bóng tối. Nhưng có lẽ, chưa bao giờ cuộc đời chị lại nhiều ánh sáng đến thế.
Hạnh phúc muộn màng ấy giống như ngọn gió biển Đồng Châu, không ồn ào, không dữ dội, chỉ nhẹ nhàng thổi qua những tháng năm khắc nghiệt, đủ làm dịu mát một đời người từng đi qua quá nhiều giông bão.
Trần Quốc Nam
