Người mang nghề cho làng

Sinh ra với đôi chân tật nguyền, lớn lên trong những tháng năm chiến tranh đói nghèo và mất mát, cô Đoàn Thị Gấm từng nghĩ cuộc đời mình chỉ lặng lẽ như một chiếc bóng bên hiên nhà. Nhưng từ đôi tay bé nhỏ ấy, chị không chỉ tự thắp sáng số phận mình bằng nghề thêu móc, mà còn mang cả một nghề thủ công về cho quê hương. Người phụ nữ ngồi xe lăn ấy đã góp phần làm nên sinh kế cho biết bao gia đình nơi miền quê lúa.

Cô Đoàn Thị Gấm người truyền nghề cho làng
(Ảnh có chỉnh sửa kỹ thuật một phần nhỏ từ AI)

Vừa đặt chân tới đầu thôn Nam Chính, xã Nam Cường, tỉnh Hưng Yên, hỏi thăm nhà cô Gấm, chúng tôi đã nghe bà con hồ hởi:
– À, cô Gấm ấy à? Người mang nghề đan móc về cho cả làng đấy! Ngày xưa mà có lệ tôn vinh tổ nghề thì cô ấy phải được gọi là tổ nghề của làng này rồi!

Câu nói ân tình ấy khiến tôi tò mò bước nhanh hơn vào con ngõ nhỏ. Trong căn nhà chỉ hơn chục mét vuông, vài người phụ nữ đang ngồi quây quần, tay thoăn thoắt đưa kim, tiếng chuyện trò ríu rít, nổi bật giữa căn phòng là người phụ nữ mảnh khảnh ngồi trên chiếc xe lăn cũ. Khuôn mặt chị bình thản nhưng sâu trong ánh mắt vẫn phảng phất một nỗi buồn rất xa. Đó là cô Đoàn Thị Gấm.

Giọng chị nhẹ như gió thoảng: “Tôi sinh ra với đôi chân không lành lặn, chỉ biết bò lê. Những năm chiến tranh, quê tôi ở Thái Bình là vựa lúa nuôi quân, ai cũng đầu tắt mặt tối ngoài đồng. Mình tật nguyền nên càng thấy mình thừa thãi. Tôi chỉ biết lủi thủi chơi một mình…” Chị lặng đi một lúc rồi kể tiếp, đôi mắt hoe đỏ như đang sống lại ký ức năm nào “Có một buổi trưa mà đến giờ tôi vẫn nhớ như in, anh bưu tá tất tả chạy vào nhà, chưa kịp nói gì thì nước mắt anh đã rơi. Sau đó Ủy ban xã làm lễ truy điệu cha tôi. Người Cha hy sinh khi anh em chúng tôi còn chưa kịp nhớ mặt. Giây phút ấy, tôi thấy vai mình như oằn xuống. Tự nhiên tôi hiểu rằng mình phải lớn lên. Dù đôi chân này không đi được như người khác, lết bằng hai tay tôi vẫn phải biết trông nhà, trông em, đỡ đần mẹ thổi một bữa cơm…”

Ngày đất nước hòa bình, anh trai tôi nghe tin ở tận xã Thụy An, dưới chân núi Ba Vì (Hà Tây cũ), có “Trung tâm Phục hồi chức năng lao động con liệt sĩ” mới thành lập (Trường thành lập năm 1976)* Anh về hỏi tôi “Em có muốn đi học không?” Xa mẹ, xa quê, xa những người thân yêu, với cô gái tật nguyền ấy là điều chẳng dễ dàng. Nhưng trong lòng chị chỉ đau đáu một suy nghĩ giản dị: “Mình đi học thì gia đình sẽ bớt đi một miệng ăn”. Thế nhưng việc nhập học cũng chẳng hề suôn sẻ, nhà trường khi ấy quy định không nhận học sinh trên 18 tuổi. Chị sinh năm Mậu Tuấn (1958) là vừa tròn 18. Người anh trai thương em xót xa, đành làm điều day dứt nhất đời mình: khai giảm tuổi của em xuống hai năm. Vậy là cô gái nhỏ gạt nước mắt lên đường, bước vào một cuộc đời khác.

Ở trường, chị được học văn hóa, học nghề thêu, học cách tự chăm sóc bản thân. Quan trọng hơn cả, chị tìm thấy những người bạn cùng cảnh ngộ và những người thầy tận tụy yêu thương. Những buổi chiều đầu tiên nhớ mẹ đến nhói lòng rồi cũng dần nguôi ngoai trong vòng tay sẻ chia ấy.

Nhưng bước ngoặt lớn nhất đời chị lại đến vào một buổi chiều rất đỗi tình cờ. Hôm ấy, đi dạo quanh khuôn viên trường, chị bỗng sững người trước một chiếc khăn thêu móc tuyệt đẹp. Những đường kim nhỏ mảnh như tơ, kết thành hoa văn tinh xảo đến mức ánh nắng xuyên qua tạo nên vẻ lung linh kỳ ảo. Hình ảnh chiếc khăn ấy ám ảnh chị suốt nhiều đêm. Cuối cùng, chị đánh liều mượn chiếc khăn, ngắm thật kỹ, rồi chị lấy số tiền phụ cấp ít ỏi dành dụm được, nhờ cô giáo mua giúp một cuộn chỉ cùng chiếc kim móc. “Cứ móc hỏng lại tháo ra làm lại, tay rớm máu vẫn không bỏ. Và chỉ sau ba ngày, tôi đã làm được một chiếc khăn giống gần như y hệt.” chị cười hiền. Sự khéo léo ấy khiến thầy cô và bạn bè kinh ngạc, kể từ đó, chị say mê với nghề thêu móc, như tìm thấy lẽ sống của đời mình.

Năm 1983, tốt nghiệp với tay nghề xuất sắc, chị được mời về giảng dạy tại Trường Trung cấp nghề cho người khuyết tật Thái Bình (cũ) tiền thân là ngôi trường dành riêng cho người tàn tật và các đối tượng chính sách. Suốt nhiều năm sau đó, chị miệt mài đi dạy nghề cho người khuyết tật trong tỉnh và nhiều vùng lân cận. Hàng trăm học viên đã được chị truyền nghề. Những năm 1986–1990, sản phẩm thêu móc của trường nổi tiếng khắp nơi.

Cô Gấm tặng bức trướng cho Trưởng đoàn đại sứ châu Âu
(Ảnh được phục dựng từ bản gốc, có sử dụng A.I)

Nhắc lại quãng thời gian ấy, ánh mắt chị bỗng sáng lên “Hạnh phúc nhất là lần đoàn đại sứ quán các nước châu Âu về thăm trường, tôi được chọn thêu bức trướng tặng trưởng đoàn. Khi ấy tôi nghĩ, hóa ra đôi tay của một người tật nguyền cũng có thể làm nên những điều đẹp đẽ…” Niềm vui tuổi trẻ ấy vẫn còn nguyên trong ánh mắt người phụ nữ nay mái tóc đã bạc.

Đầu những năm 2000, trong một lần về quê nghỉ hè, thấy lũ trẻ và bà con nông nhàn chỉ quanh quẩn hết ngày, chị bắt đầu dạy nghề cho chị dâu, rồi các cháu, rồi những người hàng xóm. Người này truyền người kia, dần dần cả xã Nam Cường biết nghề thêu móc lúc nào không hay. Những đơn hàng từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… liên tiếp gửi về. Những container hàng hóa lặng lẽ rời làng quê lúa đi khắp năm châu. Chị cười, ánh mắt xa xăm:

“Nhiều khi tôi cứ nghĩ, trong những căn biệt thự sang trọng nơi phương trời nào đó, có ai biết rằng những tấm rèm ren, những miếng lót bình hoa tinh xảo kia lại được làm từ đôi tay của những người phụ nữ khuyết tật ở Việt Nam xa xôi?”

Cuộc đời vốn công bằng với những ai biết nhẫn nại và không chịu đầu hàng số phận. Người phụ nữ từng mặc cảm vì đôi chân tật nguyền ngày nào giờ đã trở thành người gieo nghề, giữ lửa cho cả một làng quê. Giữa thời đại công nghiệp hóa, khi máy móc có thể làm ra vô vàn sản phẩm giống nhau, những món đồ thủ công làm bằng đôi tay và tâm huyết con người vẫn luôn có chỗ đứng riêng. Bởi trong từng đường kim mũi chỉ không chỉ có sự khéo léo, mà còn có hơi ấm của nghị lực, của niềm tin và khát vọng sống.

Và có lẽ, câu nói của người xưa vẫn chưa bao giờ cũ: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.” Với những giá trị thủ công mang hồn người ấy, đồ handmade sẽ chẳng bao giờ hết chỗ đứng giữa cuộc đời này.

Trần Quốc Nam

*”Trung tâm Phục hồi chức năng lao động con liệt sĩ” được thành lập năm 1976 theo Nghị định 60/CP và Quyết định 452/QĐ-TBXH ngày 27/07/1976 của Bộ Thương binh và Xã hội. Năm 2016 Trung tâm được đổi tên chính thức thành “Trung tâm Phục hồi chức năng người khuyết tật Thụy An” theo Quyết định số 19/QĐ-LĐTBXH.

Bài viết liên quan

6273

Cô gái ước mỗi ngày có 48 tiếng

Picture3

Có thể bạn không cao, nhưng người khác vẫn phải ngước nhìn

Picture1

Tôi đẹp & bạn cũng thế…

2261

Bay lên cánh én nhỏ

2263

Gió mát Đồng Châu

z7960221070576_e8419acab12d21098a52e5954cccfcd4

Kỷ lục gia Nguyễn Phi Dũng: Hành trình lưu giữ những tờ báo đi cùng lịch sử

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang