Nghề “nói bằng tay & nghe bằng mắt”

Ngày 23 tháng 9 hàng năm được quốc tế lấy là “Ngày Ngôn ngữ ký hiệu” một ngày để chúng ta dừng lại và nhìn kỹ hơn vào một ngôn ngữ không phát ra âm thanh, “lời nói” chỉ là những đôi tay chuyển động. Nhưng đó là tiếng nói của một cộng đồng, là quyền được biết, được học, được chữa bệnh, được làm việc và được sống bình đẳng… Hãy lắng nghe điều họ đang nói

Bản tin Thời sự phát lại lúc 22 h trên VTV2 ngày 10 tháng 10 năm 2003 có thêm một góc nhỏ trên màn hình truyền hình. Trên ô cửa bé xíu đó, là một người đứng, hai tay chuyển động liên tục, khuôn mặt biểu cảm, ánh mắt tập trung.

Nếu bạn nghe được, có thể sự xuất hiện của họ chỉ là một chi tiết nhỏ, bạn nhìn thấy và quên đi ngay sau đó. Nhưng với một người Điếc, vài phút ấy có thể là cả một cánh cửa thông tin được mở ra. Cho đến hôm nay tất cả các bản tin Thời sự phát trực tiếp trên VTV1, VTVGo và thậm chí là Video hướng dẫn an toàn trên các chuyến bay của Vietnam Airlines đều có hình ảnh của những người phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu (PDNNKH) thì cái ngày 10 tháng 10 năm 2003 ấy vẫn mãi là một dấu mốc đáng nhớ.

Một cái tên gọi & triệu nhu cầu:

Tôi nhớ mãi lần đầu, Tôi được nghe chính những người khiếm thính gọi dạng tật của mình và những người đồng cảnh là “Điếc”, Tôi khá ngạc nhiên, bởi nó khác hẳn với các dạng tật khác, họ không thích một cách gọi “nôm na” như vậy mà luôn muốn gọi bằng những cụm từ mang tính nhân văn hơn, như người khiếm thị, người khuyết tật vận động… Mang băn khoăn ấy trao đổi với cô Nguyễn thị Thu Hà là một cựu giáo viên dạy trẻ Điếc, người vốn được đồng nghiệp, bạn bè gọi bằng cái tên thân mật “Hà chuyên điếc”, cô Hà cho biết

“Trước năm 2000, người không nghe được dù ít hay nhiều đều gọi là “người điếc” hoặc “câm điếc/điếc câm”. Ví dụ năm 1977, “Trường dạy trẻ Câm Điếc Hà Nội” được thành lập, là trường chuyên biệt tiên phong của Hà Nội dạy trẻ Điếc, và thường được gọi là “trường dạy trẻ Điếc Xã Đàn”( hiện nay là trường THCS Xã Đàn). Từ những năm cuối của thế kỷ 20, với xu hướng phát triển của xã hội, từ “khiếm thính” chỉ tình trạng suy giảm khả năng nghe trong tiếng Việt bắt đầu được sự dụng rộng rãi, thay thế dần cho những từ mang tính nặng nề như “điếc” hay ‘câm điếc”, và như vậy cũng thể hiện sự tôn trọng, tính nhân văn hơn trong ngôn ngữ giao tiếp cũng như trong các văn bản. Khi ngôn ngữ ký hiệu (NNKH) phát triển thì trong cộng đồng người “khiếm thính” lại chia ra thành “Hai trường phái” rõ rệt, nhất là đối với những trẻ mới bắt đầu đi học.

Tạm chia thành 2 nhóm chính; Nhóm 1: Những trẻ/người khiếm thính có mức độ mất thính lực nhẹ hoặc vừa, hoặc với những trẻ bị nặng khi đeo máy trợ thính hoặc cấy điện cực ốc tai phù hợp thì có thể nghe được ở những tần số nào đó và nói được phần nào, và có khả năng theo học hòa nhập tương đối tốt. Và hay được gọi là nhóm “người Khiếm thính”. Nhóm 2: Những trẻ/người khiếm thính có mức độ mất thính lực nặng hoặc đặc biệt nặng, hoặc những trẻ/người lớn chỉ bị mất thính lực vừa nhưng gia đình không có điều kiện mua máy trợ thính, không có điều kiện cấy điện cực ốc tai thì lựa chọn học NNKH và sử dụng là ngôn ngữ chính để học tập và giao tiếp. Họ thấy cuộc sống của họ gắn liền với NNKH và họ phần lớn là những người “điếc nặng” hoặc “đặc biệt nặng”.

Và cũng bắt đầu từ đó, những trẻ/người chỉ sử dụng NNKH để học tập, làm việc và giao tiếp muốn được gọi trở lại với cái tên “trẻ Điếc/người Điếc”. Chỉ đơn giản là muốn xã hội thấy được họ là những người Điếc thực thụ và có khả năng sử dụng NNKH để học tập, nghiên cứu, làm nghề, và cũng có gia đình, có đóng góp cho xã hội như mọi công dân khác. Và họ đã tự nhận cái tên là “trẻ Điếc/người Điếc”, đơn giản chỉ vậy thôi. Chính vì vậy các bạn cũng đừng ngạc nhiên khi thấy có “Chi hội người Điếc” và cũng có những “Câu lạc bộ người Khiếm thính”. Nhưng điều hay là trong các hội nhóm này thì cũng có đủ thành phần của người Điếc hay Khiếm thính, và có cả người Nghe nữa. Hiện nay NNKH đã được phổ biến rộng rãi, ai thích thì học dù với mục đích gì, và từ đó giữa người Nghe và người Điếc/Khiếm thính cũng đồng cảm với nhau hơn, hiểu nhau hơn và có những hoạt động xây dựng cho cuộc sống của đôi bên có ý nghĩa hơn.”

Theo số liệu điều tra quốc gia về người khuyết tật năm 2016 cho thấy hơn 7% dân số từ hai tuổi trở lên, tương đương khoảng 6,2 triệu người, sống với khuyết tật. Gần 12 triệu người khác sống trong hộ gia đình có ít nhất một người khuyết tật. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 ghi nhận 3,7% dân số từ 5 tuổi trở lên là người khuyết tật theo bộ câu hỏi về khó khăn chức năng. Trong đó có 2,5 triệu người Điếc nhưng có một khoảng trống đáng chú ý: chúng ta không có một bức tranh thống kê đủ chi tiết, cập nhật và riêng biệt về cộng đồng người Điếc cũng như nhu cầu sử dụng NNKH.

1790065692787 6111878840032140981 g7235291857184200460 956d0097d5da739bea63206671029d41

Cô Nguyễn Thị Thu Hà thăm các em học sinh khiếm thính tại trường chuyên biệt Hy Vọng (Bình Thạch- TP Hồ Chí Minh)

Một báo cáo của Liên Hợp Quốc về bình đẳng giới tại Việt Nam cũng lưu ý rằng chưa có số liệu phân bổ người khuyết tật theo từng dạng tật một cách đầy đủ.

Điều đó dẫn tới một nghịch lý. Chúng ta biết số người khuyết tật là hàng triệu. Biết người khuyết tật có quyền tiếp cận thông tin, giáo dục, y tế, việc làm, văn hóa và các dịch vụ xã hội. Nhưng khi hỏi cụ thể: Có bao nhiêu người Điếc cần phiên dịch? Có bao nhiêu phiên dịch viên NNKH đang hoạt động? Họ được đào tạo ở đâu? Bao nhiêu người có thể đáp ứng hội nghị, bệnh viện, tòa án?

Câu trả lời đó không thể tra trên Google và cũng không thể tìm được trong bất kỳ tài liệu nào…Trong khi nhu cầu cơ bản của cộng đồng người Điếc như bao con người không có khiếm khuyết thì không đứng yên.

Hơn một phần tư thế kỷ đi tìm một cái tên nghề

Công việc phiên dịch NNKH ở Việt Nam đã có từ cuối thập niên 90. Những giáo viên đầu tiên là những người thầy cô tâm huyết với học trò, họ học ký hiệu từ chính học sinh Điếc, từ đồng nghiệp, thống nhất giữa cô trò rồi sử dụng nó trong lớp học.

Từ năm 1999 khi Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao rộng mở hơn với các nước, nhiều tổ chức phi chính phủ phát triển với các dự án đã góp phần thúc đẩy việc học NNKH và phiên dịch NNKH. Các ký hiệu vùng miền được thu thập, rồi thống nhất đồng bộ và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Điếc cũng như tới các trường/lớp dạy trẻ Điếc. Một số lớp học về văn hóa Điếc, học NNKH và phiên dịch NNKH cũng được mở rộng hơn. Từ đó những nhân tố đầu tiên đọc được cử chỉ, dịch ra được thành ngôn ngữ phổ thông được thừa nhận là Người phiên dịch NNKH ra đời. Đáng kể là nỗ lực vận động có chương trình “Dạy ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình” do Hội Người khuyết tật Thành phố Hà Nội phối hợp triển khai chính thức lên sóng từ năm 2012 trên kênh VTV2 của Đài truyền hình Việt Nam

Sau hơn 25 năm, NNKH đã xuất hiện rộng hơn trong giáo dục, truyền thông và đời sống. Một báo cáo của Việt Nam gửi Ủy ban Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật cho biết người Điếc có thể học bằng NNKH tại các trường chuyên biệt; NNKH cũng được đưa vào một số chương trình đào tạo giáo dục đặc biệt và các khóa bồi dưỡng. Báo cáo này đồng thời ghi nhận Việt Nam có hệ thống các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tại 20 tỉnh, thành cùng các cơ sở giáo dục chuyên biệt.

Nhưng chính Ủy ban Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật trong kết luận gần đây đã khuyến nghị Việt Nam thiết lập đào tạo chính thức và chuyên nghiệp hóa phiên dịch viên NNKH, nhằm bảo đảm họ có thể sẵn sàng cung cấp dịch vụ trong các dịch vụ công mà người có khuyết tật nghe cần đến. Ủy ban cũng khuyến nghị Việt Nam công nhận NNKH Việt Nam là một ngôn ngữ chính thức.

Như vậy, khoảng trống này không chỉ được nhìn thấy từ phía cộng đồng Điếc. Nó đã trở thành một vấn đề được đặt ra trong quá trình Việt Nam thực hiện Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật.

Quyền đã có, nhưng “chiếc cầu” còn thiếu

Luật Người khuyết tật năm 2010 đã quy định người khuyết tật có quyền được tiếp cận nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội; luật cũng quy định người khuyết tật nghe, nói được học bằng ngôn ngữ ký hiệu. Luật giao Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chuẩn quốc gia về NNKH và chữ nổi Braille.

Ở cấp độ quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật yêu cầu các quốc gia tạo điều kiện cho việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu trong giao tiếp chính thức, thúc đẩy sử dụng ngôn ngữ ký hiệu và bảo đảm người khuyết tật được tiếp cận thông tin trên cơ sở bình đẳng. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước này, nhưng giữa quyền được tiếp cận và khả năng tiếp cận trên thực tế vẫn còn một khoảng cách.

Một người Điếc có quyền đi khám bệnh- Nhưng bệnh viện có sẵn phiên dịch viên NNKH không? Một người Điếc có quyền tiếp cận tư pháp- Nhưng khi cần làm việc với cơ quan tố tụng, họ có thể tìm được một phiên dịch viên đủ năng lực ở đâu? Một sinh viên Điếc có quyền học tập- Nhưng trường đại học có người hỗ trợ NNKH không? Một công dân Điếc có quyền tiếp nhận thông tin- Nhưng mọi thông tin quan trọng trên truyền hình, trong thiên tai, dịch bệnh hay tình huống khẩn cấp có được chuyển tải đầy đủ bằng NNKH không?

Câu hỏi cuối cùng có lẽ đáng suy nghĩ nhất: Quyền có thể được ghi trong luật, nhưng ai là người biến quyền ấy thành khả năng sử dụng trong đời sống? Một phần câu trả lời nằm ở những phiên dịch viên NNKH

Điều đáng ngạc nhiên là phần lớn những người đang làm công việc này không bước vào một nghề đã được xã hội chuẩn bị sẵn cho họ. Đầu tiên đến với nghề là chính những người thân của người Điếc: vợ, chồng, anh chị em ruột. Sau đó là những người đến với nghề từ chính nhu cầu: Giao tiếp, giảng dạy, đào tạo như giáo viên dạy trẻ Điếc, giáo viên trường hòa nhập và có người làm trong doanh nghiệp…

Cách họ học ngôn ngữ ký hiệu cũng khác nhau: Có người vừa làm công việc chính, vừa học NNKH, có người tự học, có người tham gia các dự án cộng đồng, có người học qua những khóa đào tạo dài ngày. Nhưng quan trọng nhất có một cách học mà sách vở không thể thay thế: sống cùng người Điếc. Cùng đi chợ, đi dã ngoại, cùng làm, cùng trò chuyện và thật tinh tế để biết quan sát.

Từ đó họ học thêm những ký hiệu mới, cách biểu đạt, sắc thái và văn hóa của cộng đồng Điếc. Bởi NNKH không phải một thứ tiếng Việt được “múa” bằng tay, mà đó là một ngôn ngữ có cách biểu đạt và văn hóa riêng. Mà người phiên dịch NNKH muốn dịch tốt, phải hiểu ngôn ngữ. Nhưng muốn hiểu ngôn ngữ, đôi khi phải hiểu cả cộng đồng sử dụng nó. Những thách thức đó đã chỉ ra vì sao có quá ít người biết Phiên dịch NNKH.

Khoảng trống không chỉ nằm ở số lượng, vấn đề của phiên dịch NNKH không đơn giản là thiếu người. Đó còn là thiếu một hệ sinh thái nghề nghiệp.

Mới ngay đây, một hội thảo về chuyên nghiệp hóa nghề phiên dịch NNKH được tổ chức tại Hà Nội ngày 19/8/2026 đã chỉ rõ một thực tế: đào tạo phiên dịch NNKH vẫn chưa được ghi nhận trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt ra yêu cầu chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa nghề.

Đây là điểm đáng chú ý. Bởi một công việc có yêu cầu chuyên môn cao nhưng nếu chưa có con đường đào tạo chính quy, chuẩn nghề nghiệp, cơ chế sử dụng và việc làm ổn định, rất khó hình thành một đội ngũ đủ lớn. Những người đang làm nghề vì thế phần nhiều vẫn được gọi khi có việc. Nhưng đó là: Hội nghị cần thì mời, sự kiện cần thì gọi, dự án cần thì tham gia…Rồi họ trở về công việc chính. “Nghề tay trái” là cách gọi vui nhưng cũng chứa nhiều xót xa mà họ thường dung để gọi về nghề phiên dịch NNKH.

Nhưng nếu một người phải phiên dịch trong bệnh viện, tòa án, hội nghị quốc tế hoặc một chương trình truyền hình, liệu đó có còn là một công việc “tay trái”? Một công việc mà sai một từ có thể khiến người khác hiểu sai thông tin y tế Một câu dịch không chính xác có thể ảnh hưởng đến quyền lợi pháp lý. Một thông tin giáo dục không đầy đủ có thể tác động đến việc học của một đứa trẻ…

Một nghề như vậy cần được nhìn bằng tiêu chuẩn của một nghề chuyên môn.

Sự thử thách cho tình yêu nghề:

Mới đây trên trang facebook cá nhân nhà báo Thu Uyên của Đài truyền hình Việt Nam đã đăng một đoạn clip các em học sinh Điếc hát Quốc ca, cô nhà báo chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” lấy đi nước mắt của bao người, đã không cầm được nước mắt khi được “nghe các em hát bằng tay” và được nghe lời chúc của các em từ người phiên dịch NNKH nói lại, Chúng tôi gọi cách người dịch NNKH cho Thu Uyên đó là “Dịch xuôi”: nghe người nói, xử lý thông tin rồi đồng thời chuyển sang ký hiệu. Nhưng “dịch ngược” là một câu chuyện khác.

Phiên dịch viên phải nhìn người Điếc ký hiệu, đọc cả đôi tay, khuôn mặt, ánh mắt, cử chỉ và bối cảnh để hiểu ý nghĩa. Sau đó, gần như ngay lập tức, họ phải chuyển thông tin ấy thành lời nói để người nghe hiểu. Người dịch không phải dịch từng chữ, mà phải dịch ý. Có những câu nếu chuyển nguyên xi từ cách biểu đạt bằng ký hiệu sang tiếng Việt sẽ rất khó hiểu. Người phiên dịch phải tìm cách diễn đạt lại cho đúng nghĩa, đúng ngữ cảnh, thậm chí đủ mạch lạc và tự nhiên. Một bên nói bằng tay, một bên nghe bằng tai và người phiên dịch viên là chiếc cầu đứng ở giữa.

Một hội thảo vì thế thường cần ít nhất hai người để họ thay nhau làm việc, hỗ trợ và kiểm tra thông tin. Làm liên tục nhiều giờ, mắt mỏi, tay mỏi, đầu óc cũng căng như dây đàn. Với hội nghị lớn hoặc sự kiện quốc tế, mọi thứ còn phức tạp hơn, bời một hội thảo quốc tế cho những người không khuyết tật có thể thống nhất một ngôn ngữ chung (Thường là tiếng Anh) nhưng với người Điếc thì không! Người Điếc đến từ các quốc gia khác nhau có thể sử dụng những hệ thống ngôn ngữ ký hiệu khác nhau, khi ấy, ngoài phiên dịch NNKH còn có thể cần phiên dịch tiếng Anh hoặc các ngôn ngữ khác.

Và có một nguyên tắc rất quan trọng mà người tổ chức sự kiện đôi khi không để ý đó là người Điếc “nghe bằng mắt”.Vì thế, phiên dịch viên đứng ở đâu, ánh sáng thế nào, phía sau họ là phông nền gì, khoảng cách đến người Điếc bao xa… đều có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận thông tin. Đó không còn là chuyện “bố trí một người biết ký hiệu đứng bên cạnh”. Đó là thiết kế khả năng tiếp cận và bạn có biết những người phiên dịch chưa bao giờ được mặc một bộ quần áo quá đẹp khi làm việc, họ luôn mặc trang phục mầu đen thiết kế đơn giản, chỉ để đôi tay của mình nổi bật hơn, cho người khác dễ nhìn thấy, để dễ đọc được.

1790065692781 6111878840032140981 g7235291857184200460 8052595f7ff5c547ca64a7d54659901f

Lê Hồng Phong-  nam phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu duy nhất của Đài truyền hình Việt Nam.

Nếu một ngày những đôi tay biến mất?

Hãy thử tưởng tượng một ngày người Điếc đi khám bệnh nhưng không có phiên dịch. Một ngày họ cần làm việc với cơ quan công quyền nhưng không có ai đủ khả năng giao tiếp. Một hội nghị nói về chính sách dành cho người Điếc nhưng người Điếc không thể hiểu trọn vẹn nội dung vì thiếu phiên dịch. Một bản tin quan trọng được phát sóng nhưng phần NNKH không có người thực hiện.

Khi đó, vấn đề không còn là “có hay không có một phiên dịch viên”. Nó trở thành câu chuyện về một công dân có được tham gia bình đẳng vào đời sống xã hội hay không? Đó cũng là lý do công việc của những người phiên dịch NNKH đáng được nhìn nhận khác đi.

Họ không đơn thuần là những người biết ký hiệu mà họ là người chuyển tải thông tin giữa hai cộng đồng. Họ giúp một người Điếc nói chuyện với bác sĩ. Giúp một đứa trẻ hiểu bài học. Giúp một công dân tiếp cận dịch vụ công. Giúp một diễn giả Điếc kể câu chuyện của mình trước một hội trường toàn người Nghe.

Và đôi khi, giúp hai thế giới vốn tưởng rất xa nhau nhận ra rằng họ thực ra chỉ thiếu một ngôn ngữ chung. Đừng chỉ nhìn thấy đôi tay, có lẽ chúng ta đã nhìn thấy họ quá nhiều mà chưa thực sự nhìn thấy họ. Trên truyền hình, họ chỉ xuất hiện trong một ô nhỏ, trong hội nghị, họ đứng bên cạnh sân khấu, trong lớp học, họ ngồi phía sau hoặc bên cạnh người Điếc…Họ hiếm khi là nhân vật chính.

Nhưng nếu không có họ, rất nhiều nhân vật chính sẽ không thể kể câu chuyện của mình đến với người Nghe. Hơn 25 năm- một phần tư thế kỷ trôi qua, những con người ấy đã làm công việc kết nối hai thế giới, phần lớn bằng sự tự học, bằng kinh nghiệm và bằng một thứ rất khó đo đếm: sự kiên trì. Bây giờ, câu hỏi không nên chỉ là “có bao nhiêu phiên dịch viên NNKH?”

1790065692771 6111878840032140981 g7235291857184200460 96f8c55ff924c12b48c39844a57885b7

Tác giả trao đổi về tầm quan trọng của NNKH với Nguyễn Trần Thủy Tiên là người điếc bẩm sinh đầu tiên của Việt Nam nhận học bổng toàn phần du học Mỹ và xuất sắc lấy bằng Thạc sĩ loại giỏi tại Đại học Gallaudet (Washington, D.C.).

Mà cần hỏi rộng hơn: Chúng ta đã có một hệ thống đủ để đào tạo, chuẩn hóa, sử dụng và bảo đảm sinh kế cho họ chưa? Bởi nếu người Điếc có quyền tiếp cận thông tin nhưng xã hội không có đủ phiên dịch viên, thì chiếc cầu nối quyền ấy với đời sống vẫn còn thiếu một nhịp. Và nếu những người đang làm công việc ấy vẫn phải gọi mình là “nghề tay trái”, có lẽ điều chúng ta cần nhìn lại không phải là đôi tay của họ. Mà là cách xã hội đang định giá một công việc giúp hàng triệu người có thể được nghe thế giới bằng chính đôi mắt của mình.

Hà Nam

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang