Ngày 22/9/2026, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 14-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật trong tình hình mới thay thế Chỉ thị số 39-CT/TW. Chỉ thị 14-CT/TW đặt ra cách tiếp cận rộng hơn đối với công tác người khuyết tật: từ chăm sóc, trợ giúp sang bảo đảm quyền bình đẳng, ưu tiên cơ hội hòa nhập và phát triển.

Ảnh mang tính chất minh họa có sự hỗ trợ bởi AI
Theo đánh giá được nêu trong Chỉ thị 14-CT/TW (Chỉ thị 14), sau 6 năm thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW, công tác người khuyết tật đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và toàn xã hội về công tác người khuyết tật từng bước được nâng lên; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về người khuyết tật từng bước được hoàn thiện; công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật được quan tâm.
Cùng với đó, các chính sách về giáo dục, y tế, dạy nghề, việc làm, trợ giúp xã hội, phục hồi chức năng và tiếp cận các dịch vụ xã hội từng bước được triển khai, tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên, hòa nhập cộng đồng và tham gia vào đời sống xã hội.
Tuy nhiên, chính Chỉ thị 14 cũng chỉ rõ công tác người khuyết tật vẫn còn những hạn chế, bất cập. Nhận thức ở một số nơi chưa đầy đủ; việc thực hiện một số chính sách còn chưa đồng bộ; khả năng tiếp cận công trình công cộng, giao thông, thông tin và các dịch vụ xã hội của người khuyết tật còn hạn chế. Giáo dục hòa nhập, đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ sinh kế và phục hồi chức năng vẫn còn những khoảng trống; việc ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số để hỗ trợ người khuyết tật chưa đáp ứng yêu cầu.
Những kết quả và hạn chế đó cho thấy công tác người khuyết tật đang đứng trước yêu cầu mới. Không chỉ tiếp tục duy trì những chính sách trợ giúp cần thiết, mà cần chuyển mạnh sang cách tiếp cận bảo đảm quyền, mở rộng cơ hội và tạo điều kiện để người khuyết tật phát huy năng lực.
Trong bối cảnh đó, Chỉ thị 14-CT/TW được ban hành với những mục tiêu và yêu cầu mới, hướng tới một cách tiếp cận toàn diện hơn trong công tác người khuyết tật.
Không chỉ là người được chăm lo
Điểm đáng chú ý trong Chỉ thị 14 là yêu cầu “chuyển đổi mạnh mẽ trong nhận thức, tư duy, chính sách đối với người khuyết tật từ chăm sóc, trợ giúp sang bảo đảm quyền bình đẳng, ưu tiên cơ hội hòa nhập và phát triển”.
Cùng với đó, Chỉ thị khẳng định người khuyết tật không chỉ là đối tượng được chăm lo, hỗ trợ, thụ hưởng chính sách mà còn có quyền, có năng lực, có khát vọng, có tiềm năng, cần được tạo điều kiện để tham gia đóng góp cho đất nước.
Trao đổi về nội dung này, ông Đặng Văn Thanh, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, cho rằng Chỉ thị 14 tiếp tục thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác người khuyết tật, đồng thời đặt công tác này trước những yêu cầu mới, phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước.
Theo ông Thanh, sự quan tâm đó được thể hiện qua cả quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách. Trong đó, những chương trình, kế hoạch được ban hành theo từng giai đoạn là cơ sở để các chính sách trợ giúp người khuyết tật được cụ thể hóa trong đời sống.
Ông Thanh cũng nhìn nhận tinh thần này có sự thống nhất với những nội dung được đặt ra trong Thông báo Kết luận số 444-TB/VPTW sau buổi làm việc ngày 3/12 của Tổng Bí thư Tô Lâm với đại diện Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với người khuyết tật. Là người trực tiếp tham dự và có bài báo cáo tại buổi làm việc, ông Thanh cho rằng những định hướng được Tổng Bí thư nêu ra khi đó tiếp tục được thể hiện trong Chỉ thị 14, nhất là yêu cầu quan tâm đầy đủ hơn đến quyền, đời sống, cơ hội phát triển và sự tham gia của người khuyết tật.
Từ quá trình đó, ông Thanh dẫn lại việc ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2026-2030 của Bộ Y tế như một bước cụ thể hóa chính sách trong giai đoạn mới. Theo ông, các chương trình, kế hoạch cần được triển khai gắn với những vấn đề thiết thực như an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, phục hồi chức năng, việc làm, sinh kế và hòa nhập xã hội.
Theo ông Thanh, chăm lo, trợ giúp vẫn là trách nhiệm cần thiết của Nhà nước và xã hội, nhất là đối với những người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng tự bảo đảm cuộc sống. Nhưng cùng với hỗ trợ, cần tạo điều kiện để người khuyết tật phát huy năng lực, tiếp cận các cơ hội học tập, việc làm, sinh kế, tham gia đời sống xã hội và đóng góp theo khả năng của mình.
Cách tiếp cận này được thể hiện khá rõ trong các mục tiêu đến năm 2030.
Bên cạnh bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và ưu tiên chăm lo cho người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn, Chỉ thị yêu cầu mở rộng cơ hội học tập, lao động, khởi nghiệp, sáng tạo, sản xuất, kinh doanh và tham gia các hoạt động xã hội để người khuyết tật phát huy năng lực, tự chủ, cống hiến và thụ hưởng thành quả phát triển.
Đáng chú ý, Chỉ thị đặt ra yêu cầu bảo đảm sự tham gia phù hợp của người khuyết tật vào các cơ quan dân cử.
Như vậy, công tác người khuyết tật không chỉ được nhìn từ việc xã hội làm gì để hỗ trợ họ, mà còn từ việc tạo điều kiện để người khuyết tật được tham gia vào những công việc chung của xã hội, phù hợp với khả năng và điều kiện của mình.

Ông Đặng Văn Thanh – Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam (Nguồn Ban Chấp hành Liên hiệp hội)
Khi tiếp cận trở thành yêu cầu xuyên suốt
Một người khuyết tật có thể có năng lực học tập, lao động, sáng tạo, kinh doanh và tham gia đời sống xã hội. Nhưng những khả năng đó khó có thể phát huy đầy đủ nếu môi trường xung quanh còn nhiều rào cản.
Một công trình không có lối tiếp cận. Một phương tiện giao thông không phù hợp. Một thủ tục hành chính thiếu hình thức hỗ trợ. Một dịch vụ công không bảo đảm khả năng tiếp cận. Một thông tin quan trọng nhưng không có phương thức phù hợp với người Điếc, người khiếm thính, người khiếm thị…
Những điều tưởng như rất nhỏ với người không khuyết tật có thể trở thành một rào cản lớn đối với người khuyết tật.
Theo ông Đặng Văn Thanh, đây cũng là một trong những điểm cần được nhìn nhận từ thực tế đời sống: nếu cơ hội tiếp cận chưa được bảo đảm thì những chính sách về học tập, việc làm, sinh kế hay tham gia xã hội cũng khó phát huy đầy đủ ý nghĩa và đạt được hiệu quả như mong muốn.
Chỉ thị 14 vì vậy xác định tăng cường khả năng tiếp cận của người khuyết tật là yêu cầu bắt buộc xuyên suốt trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, từ hoạch định, quy hoạch, thiết kế, đầu tư, xây dựng, giám sát công trình đến cung cấp sản phẩm, dịch vụ và phát triển các nền tảng số.
Các công trình xây dựng mới, công trình công cộng được cải tạo, nâng cấp phải đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện tiếp cận và sử dụng đối với người khuyết tật. Người khuyết tật được tiếp cận, sử dụng các dịch vụ công, dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông; được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí.
Cùng với đó, Chỉ thị yêu cầu ưu tiên nguồn lực cải tạo, nâng cấp các công trình công cộng, giao thông và hạ tầng thiết yếu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số; tích hợp các nền tảng số để hình thành hệ sinh thái công nghệ trợ giúp toàn diện, thuận tiện, an toàn cho người khuyết tật.
Đây là một yêu cầu đáng chú ý trong bối cảnh công nghệ ngày càng tác động trực tiếp đến cách con người học tập, làm việc, tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ.
Công nghệ nếu được thiết kế phù hợp có thể mở thêm những cánh cửa mà trước đây người khuyết tật khó tiếp cận. Nhưng nếu ngay từ đầu không tính đến khả năng tiếp cận, chính quá trình số hóa cũng có thể tạo ra những rào cản mới.
Quan tâm từ phát hiện sớm đến cơ hội phát triển
Một nội dung khác được Chỉ thị 14 đề cập cụ thể là phòng ngừa khuyết tật, phát hiện sớm, chẩn đoán, can thiệp sớm và phục hồi chức năng.
Chỉ thị khuyến khích, hỗ trợ người dân chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh; khám sàng lọc một số loại bệnh tật phổ biến, nguy cơ khuyết tật phù hợp với từng lứa tuổi, nhóm đối tượng, nhất là trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi.
Mục tiêu đến năm 2030 đặt ra yêu cầu trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi được sàng lọc, phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh, rối loạn phát triển và được can thiệp sớm phù hợp với từng dạng khuyết tật.
Trẻ em và người khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng và được cung cấp dụng cụ trợ giúp phù hợp. Trẻ em khuyết tật trong độ tuổi mầm non và phổ thông được tạo mọi cơ hội tiếp cận giáo dục phù hợp, hòa nhập và phát triển toàn diện.
Với người khuyết tật có nhu cầu, Chỉ thị đặt ra yêu cầu hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề, tiếp cận việc làm, vay vốn tạo sinh kế, khởi nghiệp hoặc phát triển sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Đặng Văn Thanh, nếu nhìn công tác người khuyết tật như một quá trình liên tục thì phát hiện sớm, can thiệp sớm và phục hồi chức năng chỉ là những điểm khởi đầu. Mục tiêu cuối cùng vẫn là tạo điều kiện để mỗi người khuyết tật có cơ hội học tập, làm việc, sống độc lập và tham gia xã hội phù hợp với khả năng của mình.
Đối với trẻ em, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa bởi cơ hội được phát hiện sớm, can thiệp phù hợp và tiếp cận giáo dục có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát triển và hòa nhập trong những năm tiếp theo.

Ảnh mang tính chất minh họa có sự hỗ trợ bởi AI
Một tầm nhìn dài hơn
Nếu mục tiêu đến năm 2030 là những việc cần được cụ thể hóa trong chặng đường trước mắt, Chỉ thị 14 đồng thời đặt ra tầm nhìn đến năm 2045.
Đó là phát triển hệ thống an sinh xã hội bao trùm, bình đẳng, hòa nhập đối với người khuyết tật; nâng cao chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện để người khuyết tật phát triển toàn diện, sống độc lập và được thụ hưởng đầy đủ các thành quả phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Đáng chú ý, Chỉ thị đặt vấn đề hỗ trợ người khuyết tật trở thành nguồn nhân lực chất lượng, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội, thịnh vượng của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Từ góc nhìn của ông Đặng Văn Thanh, đây là một nội dung cho thấy rõ hơn sự chuyển dịch trong cách tiếp cận: người khuyết tật không chỉ được nhìn nhận ở nhu cầu cần hỗ trợ mà còn ở khả năng, năng lực và sự đóng góp.
Điều đó cho thấy cách nhìn về người khuyết tật không dừng lại ở nhu cầu bảo trợ. Họ còn là những người có thể học tập, làm việc, sáng tạo, sản xuất, kinh doanh, tham gia các hoạt động xã hội và đóng góp theo những cách khác nhau.
Vấn đề là xã hội có tạo ra được những cơ hội phù hợp hay không.
Chính sách chỉ có ý nghĩa khi đi vào cuộc sống
Chỉ thị 14 không chỉ đặt ra quan điểm và mục tiêu mà còn phân công trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.
Đảng ủy Quốc hội được giao lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật trong tình hình mới; nghiên cứu, bổ sung cơ cấu đại biểu Quốc hội là người khuyết tật và tăng cường giám sát việc thực hiện pháp luật, chính sách về người khuyết tật theo quy định.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo Đảng ủy Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện; kiểm tra, đôn đốc, đánh giá kết quả; tổng hợp những khó khăn, vướng mắc, đề xuất giải pháp; bố trí, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, định kỳ báo cáo Ban Bí thư kết quả thực hiện Chỉ thị.
Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể Trung ương được giao nâng cao hiệu quả các cuộc vận động, phong trào chăm lo, giúp đỡ người khuyết tật; tạo điều kiện để người khuyết tật và tổ chức đại diện của họ tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát các chính sách liên quan trực tiếp đến người khuyết tật.
Ban Tuyên giáo Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan báo chí, truyền thông và hệ thống thông tin cơ sở tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội về người khuyết tật; biểu dương những tấm gương người khuyết tật tiêu biểu, lan tỏa tinh thần tôn trọng, sẻ chia, đồng hành.
Các tỉnh ủy, thành ủy được yêu cầu tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và tổ chức triển khai nghiêm túc Chỉ thị, xây dựng kế hoạch cụ thể, xác định rõ trách nhiệm, lộ trình và thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện.
Với ông Đặng Văn Thanh, điều quan trọng sau khi Chỉ thị được ban hành là những quan điểm và yêu cầu đó phải tiếp tục được cụ thể hóa ở từng lĩnh vực, từng địa phương và trong chính đời sống của người khuyết tật. Khi người khuyết tật có thể tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế, việc làm, công nghệ, dịch vụ công và các hoạt động xã hội, khi đó chính sách mới thực sự tạo ra những thay đổi có ý nghĩa.
Ở góc độ tổ chức của người khuyết tật, ông Đặng Văn Thanh cho rằng để những yêu cầu của Chỉ thị 14 đi vào cuộc sống, bên cạnh trách nhiệm của các cơ quan chức năng, vai trò của các tổ chức hội của người khuyết tật cần được phát huy rõ hơn, nhất là trong việc kết nối chính sách với thực tế.
Theo ông, các tổ chức của người khuyết tật có điều kiện gần cơ sở, hiểu những nhu cầu cụ thể và những rào cản mà người khuyết tật đang gặp phải. Vì vậy, các tổ chức có thể phát huy vai trò trong tuyên truyền, vận động, phản ánh những vấn đề từ thực tiễn, góp ý xây dựng chính sách, tham gia giám sát việc thực hiện và kết nối các nguồn lực xã hội.
Quan trọng hơn, tổ chức hội cần góp phần để người khuyết tật hiểu và thực hiện quyền của mình, đồng thời tạo thêm những cơ hội để họ học tập, làm việc, phát triển sinh kế và tham gia các hoạt động xã hội. Khi các tổ chức của người khuyết tật thực sự trở thành cầu nối giữa người khuyết tật, cơ quan quản lý và cộng đồng, tinh thần của Chỉ thị sẽ có thêm điều kiện để được chuyển hóa thành những việc làm cụ thể ở cơ sở.
Một Chỉ thị, dù đặt ra những mục tiêu cụ thể đến đâu, cuối cùng vẫn phải được nhìn từ đời sống.
Một con đường có thể đi được bằng xe lăn. Một trường học có thể tiếp nhận một học sinh có nhu cầu hỗ trợ đặc biệt. Một người Điếc, người khiếm thính có thể tiếp cận thông tin và dịch vụ công. Một người khuyết tật có thể học nghề, tìm được việc làm, khởi nghiệp. Một thủ tục hành chính có thể được thực hiện mà không tạo thêm rào cản. Một người khuyết tật có thể tham gia vào những công việc chung của cộng đồng.
Đó là những nơi chính sách được nhìn thấy rõ nhất.
Chỉ thị 14-CT/TW thay thế Chỉ thị số 39-CT/TW và được phổ biến đến chi bộ. Từ một văn bản của Ban Bí thư, những yêu cầu ấy sẽ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa thành chính sách, kế hoạch và những việc làm cụ thể ở từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị và trong đời sống cộng đồng.
Và có lẽ, điều quan trọng của cách tiếp cận mới không phải là xã hội nói về người khuyết tật nhiều hơn, mà là tạo ra nhiều cơ hội hơn để họ được sống, học tập, làm việc, tham gia đóng góp và thực hiện nghĩa vụ như những thành viên đầy đủ của xã hội.
Thảo Văn
Toàn văn Chỉ thị: BAN_CHAP_HANH_TRUNG_UONG_cung_chieu-compressed
