Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương trên cơ thể và ký ức của những người lính năm xưa vẫn còn đó như lời nhắc về cái giá của hòa bình. Giữa không gian bình yên của Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên, những thương bệnh binh nặng được chăm sóc bằng tình yêu thương và sự tận tụy, cùng nhau viết tiếp câu chuyện về nghị lực, nghĩa tình đồng đội và phẩm chất cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.
Từ lằn ranh sinh tử đến khí chất Bộ đội Cụ Hồ
Giữa không gian yên bình của Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên, những câu chuyện về một thời lửa đạn không được kể bằng những lời hào hùng, mà bằng giọng nói chậm rãi, trầm ấm của những người lính đã đi qua chiến tranh. Mỗi ký ức được nhắc lại đều lặng lẽ, như thể những mất mát và hy sinh đã lắng sâu theo năm tháng.

Ông Trịnh Văn Đông (sinh năm 1948, quê Ninh Bình), thương binh hạng 1/4.
Ông Trịnh Văn Đông (SN 1948, quê Ninh Bình) là một trong số đó. Năm 1970, người công nhân Nhà máy Dệt Nam Định gác lại tuổi trẻ để lên đường nhập ngũ theo đợt tổng động viên sau chiến dịch Mậu Thân. Hai năm sau, tại chiến trường Quảng Trị rực lửa, ông cùng đồng đội bước vào những trận đánh khốc liệt nhất của cuộc chiến.
Tháng 9/1972, trong trận đánh tại Bích La Đông (Triệu Phong, Quảng Trị), trên cương vị Trung đội trưởng, ông chỉ huy đơn vị bí mật áp sát trận địa với nhiệm vụ bắt sống một sĩ quan chỉ huy của địch. Kế hoạch không thành khi đơn vị vướng mìn, lập tức hứng chịu những đợt pháo kích dữ dội. Giữa khói lửa ngút trời, người trung đội trưởng vẫn liên tiếp khai hỏa 8 quả đạn B41, cùng đồng đội đánh trả quyết liệt, giữ vững trận địa trước khi bản thân gục xuống vì thương tích.
Chiến tranh khép lại, nhưng những gì để lại trên cơ thể ông thì chưa bao giờ lành hẳn. Một mảnh đạn vẫn nằm sâu trong lá phổi phải suốt hơn nửa thế kỷ, một mắt vĩnh viễn không còn nhìn thấy, hai tai thủng màng nhĩ, xương mu bàn chân gãy do hầm sập. Sau trận đánh ấy, ông hôn mê 45 ngày, cân nặng từ 72kg chỉ còn 37kg. Ranh giới giữa sự sống và cái chết khi ấy mong manh đến mức chính ông cũng không biết mình đã trở về bằng cách nào, ngoài sự cưu mang, chăm sóc của đồng đội và người dân đất Quảng.
Với ông Đông, chiến tranh không chỉ lấy đi một phần cơ thể, mà còn để lại những ký ức không thể phai mờ. Và cũng từ những mất mát ấy, ông càng thấu hiểu hơn giá trị của hòa bình, của mỗi ngày còn được sống, được trở về trong vòng tay đồng đội và quê hương.
Nếu ông Trịnh Văn Đông là ký ức của những năm tháng khốc liệt trên chiến trường Quảng Trị, thì thương binh Phạm Minh Liên (SN 1952, quê Hà Tĩnh) lại mang trong mình dấu ấn của cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và những năm làm nghĩa vụ quốc tế cao cả trên đất Campuchia.
Tốt nghiệp Trường Sĩ quan Lục quân, ông được phân công về Sư đoàn 330, Quân khu 9. Đầu năm 1979, khi tàn quân Pôn Pốt liên kết với các thế lực bên ngoài liên tiếp mở các cuộc phản kích dọc tuyến biên giới Thái Lan – Campuchia, người Đại đội trưởng trẻ tuổi cùng đồng đội bước vào những ngày chiến đấu gần như không có khái niệm về sự nghỉ ngơi. Giữa rừng sâu, giữa những trận phục kích và đọ súng dai dẳng, điều duy nhất họ nghĩ đến là giữ vững trận địa và bảo vệ đồng đội.
Sáng 2/3/1979, một mảnh đạn xuyên thẳng vào cột sống khiến ông bị hạ liệt hoàn toàn hai chân. Nhưng ngay giữa lằn ranh sinh tử, người đại đội trưởng vẫn không rời khỏi trận đánh. Chịu đựng những cơn đau dữ dội, ông giữ trọn sự bình tĩnh để tiếp tục chỉ huy đơn vị, động viên từng chiến sĩ bám trụ, chiến đấu cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ và lực lượng chi viện của tuyến sau kịp có mặt.

Ông Phạm Minh Liên (sinh năm 1952, quê Hà Tĩnh), thương binh hạng 1/4.
Nhiều năm đã trôi qua, đôi chân không còn có thể đưa ông đi hết những chặng đường như thuở tuổi đôi mươi. Nhưng nghị lực, bản lĩnh của người lính năm nào vẫn còn nguyên vẹn. Với ông Liên, điều quý giá nhất không phải là những tấm huân chương, mà là niềm vui khi được cùng đồng đội trở về sau chiến tranh, được chứng kiến đất nước hòa bình và thế hệ hôm nay lớn lên trong những ngày không còn tiếng súng.
Vết thương còn đó, khí chất người lính còn nguyên
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với những người lính trở về từ chiến trường, cuộc chiến với thương tật và những di chứng âm thầm vẫn chưa bao giờ thực sự khép lại.
Với thương binh Trịnh Văn Đông, những mảnh đạn còn nằm trong cơ thể vẫn nhức buốt mỗi khi trái gió trở trời. Thế nhưng, điều khiến ông day dứt hơn cả không phải là những vết thương đã mang theo hơn nửa thế kỷ, mà là nỗi lo dành cho con cháu. Hai người cháu nội của ông sinh ra với biểu hiện chậm phát triển trí tuệ. Ông luôn canh cánh nỗi băn khoăn rằng đó có thể là hệ lụy của chất độc da cam mà mình từng phơi nhiễm trong chiến tranh.
Chưa một lần than thân trách phận, người cựu binh chỉ lặng lẽ dặn con gái chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, giấy tờ để nếu sau này các cháu đủ điều kiện được xác định chịu ảnh hưởng của di chứng chất độc da cam thì gia đình có thể hoàn thiện thủ tục hưởng chính sách theo quy định. Đó là sự cẩn trọng của một người ông luôn đau đáu về tương lai của những đứa cháu khi một ngày mình không còn đủ sức chở che.
Với thương binh Phạm Minh Liên, hơn bốn mươi năm qua, chiếc xe lăn đã trở thành người bạn đồng hành thay cho đôi chân. Mảnh đạn găm vào cột sống không chỉ khép lại giấc mơ tiếp tục học tập, cống hiến trên con đường binh nghiệp, mà còn mở ra một hành trình dài học cách sống cùng thương tật bằng ý chí và nghị lực.
Dẫu chiến tranh đã lấy đi nhiều điều quý giá, nhưng họ vẫn giữ nguyên phẩm chất tốt đẹp của người Bộ đội Cụ Hồ. Trở về quê hương hay sống tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên, họ vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, sống mẫu mực, khiêm nhường và trách nhiệm. Ngay cả khi chịu những thiệt thòi không đáng có, như việc hai Huân chương Chiến công của ông Trịnh Văn Đông bị thất lạc do sai sót trong quá trình lưu giữ hồ sơ, ông cũng chỉ nhắc lại bằng giọng điềm đạm, không một lời oán trách.
Nhìn các ông hôm nay, người ta hiểu rằng điều quý giá nhất còn lại sau chiến tranh không chỉ là hòa bình, mà còn là khí chất của những người lính. Dẫu mang trên mình thương tật suốt đời, họ vẫn giữ trọn sự điềm đạm, lòng bao dung và niềm tin vào con người. Đó là những giá trị đã làm nên hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ – không chỉ anh dũng trong chiến đấu, mà còn kiên cường, tử tế và nhân hậu giữa cuộc sống đời thường.
Mái nhà của nghĩa tình và niềm tin
Ở Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên, những người lính mang trên mình thương tật chiến tranh không chỉ được chăm sóc sức khỏe mà còn được sống trong tình thân của một gia đình lớn. Trải qua gần 70 năm hình thành và phát triển, từ những ngày phải gửi thương binh ở nhờ nhà dân vì điều kiện còn thiếu thốn, nơi đây nay là mái nhà chung của 47 thương, bệnh binh nặng và một thân nhân liệt sĩ đến từ nhiều tỉnh, thành trong cả nước.

Bà Mã Thị Bích Nhạn, Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên
Theo bà Mã Thị Bích Nhạn, Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên, hầu hết các thương binh tại đây đều suy giảm khả năng lao động từ 81% đến 100%; khoảng 80% bị liệt cột sống, phải sử dụng xe lăn, số còn lại mang nhiều thương tật đặc biệt nặng như hỏng cả hai mắt, cụt hai chi hoặc đa chấn thương.
“Phần lớn các bác không còn khả năng tự phục vụ. Đội ngũ y, bác sĩ và điều dưỡng của trung tâm túc trực 24/24 giờ để chăm sóc từ bữa ăn, sinh hoạt, vệ sinh cá nhân đến điều trị, phục hồi chức năng. Với những trường hợp nằm liệt nhiều năm, cán bộ, nhân viên phải trực tiếp đút từng thìa cơm, chăm sóc từng giấc ngủ. Có thể nói, trung tâm không chỉ là nơi điều trị mà đã thực sự trở thành mái nhà để các bác yên tâm sống trong tình yêu thương và sự sẻ chia,” bà Nhạn chia sẻ.
Đằng sau những căn phòng ngăn nắp, những bữa cơm đúng giờ hay những buổi tập phục hồi chức năng là sự tận tụy của đội ngũ cán bộ, y bác sĩ và điều dưỡng. Với họ, chăm sóc thương bệnh binh không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là sự tri ân bằng trách nhiệm và tình cảm. Có lẽ vì thế, điều níu giữ các thương binh ở nơi đây không chỉ là chế độ chăm sóc, mà còn là nghĩa tình của những con người luôn coi họ như người thân trong gia đình.
Ông Trịnh Văn Đông xúc động nói: “Về đây chúng tôi thấy đúng là một mái nhà chung. Có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, có tình cảm của cán bộ, nhân viên trung tâm. Chúng tôi sống được đến hôm nay phần nhiều nhờ sự chăm sóc tận tình ấy.”
Giữa nhịp sống bình yên của trung tâm, những câu chuyện về chiến tranh vẫn được kể mỗi ngày, nhưng không để nhắc lại đau thương hay chiến công. Đó là những câu chuyện để nhắc thế hệ hôm nay rằng hòa bình chưa bao giờ là điều tự nhiên có được.
Khi được hỏi điều mong mỏi nhất, ông Phạm Minh Liên chỉ mỉm cười hiền hậu: “Thế hệ trẻ hôm nay có điều kiện học tập, có tri thức, có nhiều cơ hội hơn chúng tôi ngày trước. Những ước mơ còn dang dở của thế hệ chúng tôi, mong các cháu sẽ tiếp tục thực hiện, góp sức xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.”
Còn ông Trịnh Văn Đông chỉ mong những câu chuyện của những người lính năm xưa sẽ được kể nhiều hơn trong trường học, trên báo chí và trong mỗi gia đình, để các em hiểu rằng độc lập, tự do và cuộc sống yên bình hôm nay đã được đánh đổi bằng biết bao tuổi xuân, máu và nước mắt.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những con người mang trên mình vết thương chiến tranh vẫn đang âm thầm gìn giữ một bài học lớn về lòng yêu nước, sự hy sinh và nghị lực sống. Giữa không gian yên bình của Trung tâm Điều dưỡng thương binh Duy Tiên, họ nương tựa vào nhau như những người thân ruột thịt, cùng đi tiếp những năm tháng còn lại bằng sự bình thản của những người đã cống hiến trọn tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Đó không chỉ là một trung tâm điều dưỡng, mà còn là nơi gìn giữ ký ức của chiến tranh, nuôi dưỡng nghĩa tình của hòa bình và nhắc mỗi chúng ta biết trân trọng hơn giá trị của cuộc sống hôm nay.
Song Hồng
