Một trong những mục tiêu đáng chú ý tại Quyết định số 2559/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 11/8/2026 là phấn đấu đến năm 2030 có 80% số tỉnh, thành phố có tổ chức của người khuyết tật. Nếu nhìn đơn thuần, đây là một chỉ tiêu về độ phủ. Nhưng nhìn sâu hơn, phía sau con số 80% là câu chuyện về vai trò, vị thế và khả năng đại diện của chính người khuyết tật trong quá trình đưa chính sách vào cuộc sống.

Ảnh minh họa (ảnh do bà Lan Anh cung cấp)
- 80% và câu chuyện về một điểm tựa
Quyết định số 2559/QĐ-BYT ngày 11/8/2026 của Bộ Y tế ban hành Kế hoạch tổng thể triển khai Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2026-2030. Trong nhóm mục tiêu về văn hóa, thể thao và tổ chức Hội, kế hoạch đặt ra chỉ tiêu phấn đấu 80% số tỉnh, thành phố có tổ chức của người khuyết tật.
Quyết định số 2559/QĐ-BYT vì thế không nên chỉ được nhìn như một kế hoạch với những chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030. Ở góc độ rộng hơn, đây là một hành động thực tế góp phần hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong công tác người khuyết tật. Từ Luật Người khuyết tật năm 2010, Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật, đến Thông báo Kết luận số 444-TB/VPTW của Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc ngày 03/12/2025 với đại diện Đảng ủy Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với người khuyết tật, có thể thấy một yêu cầu xuyên suốt là những quyền đã được xác lập bằng chủ trương và pháp luật phải tiếp tục được cụ thể hóa bằng những chương trình, kế hoạch và hành động trong thực tiễn.
Theo đó, mục tiêu phấn đấu 80% số tỉnh, thành phố có tổ chức của người khuyết tật không đơn thuần là mở rộng mạng lưới tổ chức của người khuyết tật (Hội người khuyết tật). Quan trọng hơn, đó là tạo thêm những địa chỉ để người khuyết tật được tập hợp, được đại diện, được tham gia và cùng đồng hành trong quá trình đưa chính sách vào cuộc sống.
Bởi một chính sách dù tốt đến đâu cũng cần một lực lượng đủ gần với đời sống để đưa chính sách ấy đến từng nhóm người, từng địa phương, từng hoàn cảnh cụ thể. Và trong câu chuyện này, tổ chức của người khuyết tật chính là một trong những mắt xích quan trọng.
Đặc biệt, vai trò của tổ chức người khuyết tật không phải đến bây giờ mới được đặt ra mà đã được quy định rõ, khẳng định trong Luật Người khuyết tật 2010.
Điều 9 Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định: “Tổ chức của người khuyết tật là tổ chức xã hội được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật để đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên là người khuyết tật, tham gia xây dựng, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật đối với người khuyết tật.”
Luật cũng phân biệt rõ tổ chức của người khuyết tật với tổ chức vì người khuyết tật. Nếu tổ chức vì người khuyết tật thực hiện các hoạt động trợ giúp thì tổ chức của người khuyết tật còn mang một vai trò khác: đại diện cho chính người khuyết tật, tham gia vào quá trình xây dựng và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến họ.
Điều này có ý nghĩa rất lớn. Bởi người khuyết tật không chỉ cần được giúp đỡ. Họ cần được nói, được tham gia và được đại diện trong những vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình.

Bà Nguyễn Thị Lan Anh, Phó Chủ tịch Chuyên trách Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam (nguồn Facebook bà Lan Anh)
Theo bà Nguyễn Thị Lan Anh, Phó Chủ tịch chuyên trách Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển cộng đồng (ACDC), đến nay vẫn còn không ít người chưa nhìn nhận hết vai trò của tổ chức hội đối với người khuyết tật.
Từ kinh nghiệm nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực này, bà Lan Anh cho rằng hội của người khuyết tật không nên chỉ được nhìn đơn giản như một nơi để người khuyết tật gặp gỡ, sinh hoạt hay nhận hỗ trợ. Giá trị lớn hơn của tổ chức hội nằm ở khả năng tập hợp tiếng nói của người khuyết tật, giúp họ hiểu quyền của mình, tham gia vào những vấn đề liên quan đến cuộc sống của mình và từng bước trở thành chủ thể của quá trình thay đổi. Đúng với tinh thần “không có gì của chúng tôi mà không có sự tham gia của chúng tôi”.
Tuy nhiên, vị Phó Chủ tịch chuyên trách của Liên hiệp hội cũng nhấn mạnh hội phải là điểm tựa của người khuyết tật, nhưng không phải điểm tựa để họ dựa mãi vào sự trợ giúp. Đó phải là nơi giúp họ có thêm khả năng tự đứng trên đôi chân của mình và lên tiếng về những vấn đề của chính mình.
Bởi người khuyết tật không phải một nhóm đồng nhất. Có người khuyết tật vận động, khuyết tật nghe nói, khuyết tật nhìn, thần kinh – tâm thần, khuyết tật trí tuệ, khuyết tật khác; mỗi dạng tật lại có những rào cản rất riêng. Thậm chí, ngay trong cùng một dạng tật, hoàn cảnh giữa người ở đô thị và nông thôn, giữa người có việc làm và người chưa có việc làm, giữa người có điều kiện kinh tế và người còn khó khăn cũng rất khác nhau.
Nếu không có những tổ chức đủ gần, đủ hiểu và có khả năng tập hợp, nhiều vấn đề từ đời sống rất khó trở thành tiếng nói chính sách.
Theo bà Lan Anh, Hội của người khuyết tật thể hiện rất rõ ba nhóm vai trò đó là: Hội là nơi đại diện và vận động chính sách, giám sát thực hiện quyền của người khuyết tật, hội viên của họ. Hội của người khuyết tật là nơi kết nối nguồn lực và hỗ trợ tiếp cận dịch vụ, thể hiện ở việc cung cấp thông tin, kết nối, chuyển gửi, huy động nguồn lực và hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận các dịch vụ, nguồn lực và cơ hội phù hợp với nhu cầu và sau cùng Hội của người khuyết tật thể hiện vai trò trao quyền và thúc đẩy sự tham gia của hội viên thông qua hoạt động nâng cao năng lực, hỗ trợ đồng đẳng, tăng cường khả năng tự quyết và tạo điều kiện để họ tham gia vào hoạt động của Hội, cộng đồng và các quá trình ra quyết định có liên quan.
Nếu chỉ có chính sách từ trên xuống mà thiếu tiếng nói từ dưới lên, khoảng cách giữa văn bản và cuộc sống rất dễ xuất hiện.
Đơn cử như một quy định về giao thông có thể được xây dựng đầy đủ, nhưng người sử dụng xe lăn sẽ biết rõ nhất đoạn đường nào không thể đi qua. Một chính sách về công nghệ thông tin có thể nói đến chuyển đổi số, nhưng người khiếm thị sẽ chỉ ra được một trang thông tin nào thực sự có thể sử dụng bằng phần mềm đọc màn hình. Một chương trình việc làm có thể có nhiều mục tiêu, nhưng chính người khuyết tật đang tìm việc mới hiểu những yêu cầu nào của doanh nghiệp đang trở thành rào cản.
Đó là lý do tổ chức của người khuyết tật không chỉ có vai trò tập hợp hội viên. Hội còn là kênh đưa thực tiễn đời sống vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách.
Còn theo ông Đặng Văn Thanh, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, với hơn 40 năm hoạt động trong lĩnh vực người khuyết tật, từ quản lý một đơn vị sản xuất (doanh nghiệp) của thương binh và người khuyết tật đến thành viên Ban vận động thành lập hai tổ chức hội của người khuyết tật cấp Trung ương, cho biết trong quá trình hoạt động, ông đã được nghe không ít người khuyết tật chia sẻ về những thay đổi của chính họ sau khi tham gia hội.
Có người ban đầu đến với hội chỉ vì đơn giản là muốn gặp những người cùng hoàn cảnh. Nhưng rồi qua các hoạt động, được nâng cao năng lực, được cung cấp thông tin, được tham gia các chương trình và quan trọng hơn là nhận được sự động viên, khích lệ từ những người đồng cảnh, họ dần thay đổi.
Cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước thông qua các chính sách hỗ trợ, bảo đảm quyền của người khuyết tật, nhiều người đã không chỉ vượt qua những hạn chế của chính mình mà còn trở thành “chỗ dựa”, “điểm tựa” cho những người đồng cảnh khác.
Có người từ một hội viên được hỗ trợ trở thành cán bộ Hội. Có người sau khi tự đứng vững đã quay lại hỗ trợ những người khuyết tật khác. Có người còn tham gia các hoạt động cộng đồng, trở thành những doanh nhân và hỗ trợ cho cả những người không khuyết tật.
Theo ông Thanh, đó là một sự thay đổi rất đáng trân trọng. Khi một người từng cần sự trợ giúp có thể trở thành người trợ giúp người khác, giá trị của tổ chức hội không còn dừng ở việc hỗ trợ một cá nhân, mà đã tạo ra sự lan tỏa trong cộng đồng.
Từ những câu chuyện như vậy, ông Thanh cho rằng có thể thấy rõ hơn ý nghĩa của tổ chức người khuyết tật.
“Ở đâu có tổ chức của người khuyết tật hoạt động thực chất, ở đó quyền và lợi ích của người khuyết tật được bảo đảm tốt hơn; người khuyết tật có thêm cơ hội được lắng nghe, được tham gia và được tự quyết định cuộc sống của mình. Và khi quyền được bảo đảm, cơ hội được mở ra, người khuyết tật cũng có điều kiện sống chủ động và hạnh phúc hơn.” – vị Phó Chủ tịch của 2 tổ chức hội của người khuyết tật cấp trung ương khẳng định.

Ông Đặng Văn Thanh, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam (nguồn facebook)
- Có Hội đã khó, để Hội hoạt động thực chất còn khó hơn
Theo ông Thanh, vì vậy, con số 80% có thể nói là một mục tiêu lý tưởng, nhưng giá trị thực sự không nằm ở việc mỗi địa phương có thêm một tổ chức trên danh nghĩa.
Thách thức lớn hơn nằm ở việc tổ chức ấy phải thực sự hoạt động, phải đại diện được cho người khuyết tật và phải có khả năng tạo ra những thay đổi cụ thể trong đời sống.
Điều này càng đáng lưu ý trong bối cảnh sắp xếp, sáp nhập tổ chức hiện nay. Ở một số nơi, tổ chức của người khuyết tật và tổ chức vì người khuyết tật được sắp xếp, hợp nhất thành một tổ chức, trong khi về bản chất, hai loại hình này có sự khác nhau về chức năng và vai trò.
Luật Người khuyết tật đã quy định khá rõ về tổ chức của người khuyết tật và tổ chức vì người khuyết tật. Vì vậy, trong quá trình sắp xếp, vấn đề đặt ra không chỉ là tổ chức mới mang tên gì, mà làm thế nào để sau sáp nhập, tiếng nói và vai trò đại diện của người khuyết tật vẫn được bảo đảm.
Tổ chức sau sắp xếp có thực sự là tổ chức của người khuyết tật hay không, tiêu chí nào để xác định, cơ chế hoạt động và tính đại diện như thế nào… đó là những câu hỏi cần được nghiên cứu và có hướng dẫn rõ ràng cũng như tăng hiệu quả của tổ chức trong quá trình sáp nhập, tinh gọn theo chủ trương, phù hợp với thực tiễn.
Bởi nếu chỉ đạt được con số 80% bằng cách cơ học thì rất dễ có thêm tổ chức “trên giấy”, nhưng chưa chắc có thêm sức mạnh đại diện cho người khuyết tật trong thực tế.
Chia sẻ thêm liên quan đến nội dung này, trên cơ sở thực tiễn tham gia hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển nhiều tổ chức của người khuyết tật, bà Nguyễn Thị Lan Anh cho rằng phía sau một quyết định thành lập hội còn là cả một quá trình không đơn giản.
Thành lập được tổ chức mới chỉ là bước đầu. Sau đó là bài toán về con người, phương thức hoạt động, nguồn lực tài chính, định hướng lâu dài và khả năng duy trì tổ chức…
Một Hội muốn tồn tại bền vững không thể chỉ dựa vào sự nhiệt tình của một vài cá nhân. Cần có những người đủ năng lực tổ chức, hiểu công tác Hội, hiểu nhu cầu của người khuyết tật; đồng thời phải có phương hướng, chiến lược hoạt động phù hợp với điều kiện của từng địa phương nhất là việc phải chủ động được nguồn lực để hoạt động thay vì lại rơi vào tình trạng phụ thuộc.
Thực tế cho thấy có nơi tập hợp được khá đông người khuyết tật nhưng hoạt động chưa đều; có nơi có những người rất tâm huyết nhưng lại thiếu nguồn lực; cũng có nơi nhu cầu của người khuyết tật rất lớn nhưng đội ngũ làm công tác Hội còn hạn chế về kinh nghiệm và kỹ năng.
Vì vậy, theo bà Lan Anh, cùng với mục tiêu mở rộng độ phủ của tổ chức hội, cần quan tâm đến chất lượng hoạt động và năng lực tự duy trì của từng tổ chức. Việc thành lập hội cần đi cùng với đào tạo, hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối nguồn lực để tổ chức sau khi ra đời có thể thực sự hoạt động vì người khuyết tật.

Ảnh minh họa buổi tập huấn quản lý nhà nước về hội và thành lập hội người khuyết tật cấp xã phường ở Đà Nẵng (ảnh do bà Lan Anh cung cấp)
Thực tế tại thành phố Đà Nẵng cho thấy, khi báo cáo viên Sở Nội vụ trực tiếp hướng dẫn, phổ biến các nội dung về quản lý nhà nước và quy trình thành lập Hội người khuyết tật cấp xã, phường cho Hội Người khuyết tật thành phố, các tổ chức đã và sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để hình thành và đi vào hoạt động. Đây là một minh chứng cụ thể cho thấy sự chủ động hỗ trợ của chính quyền về chuyên môn và quy trình chính là yếu tố quan trọng để mục tiêu 80% không chỉ dừng lại trên giấy.
Cùng với đó, từ thực tế hoạt động của Hội Người khuyết tật TP. Hà Nội, bà Đỗ Thị Huyền, Phó Chủ tịch Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, Chủ tịch Hội Người khuyết tật TP. Hà Nội, nhìn nhận bài toán xây dựng tổ chức Hội còn gắn chặt với chính chất lượng của đội ngũ và sự tham gia của người khuyết tật.
Hội Người khuyết tật Hà Nội hiện có gần 20.000 hội viên. Nhưng theo bà Huyền, điều quan trọng không chỉ nằm ở con số ấy, mà là phía sau mỗi hội viên có một quá trình được tiếp cận thông tin, nâng cao nhận thức, kỹ năng, năng lực hoạt động và có thêm cơ hội tham gia vào đời sống xã hội.
Có người tham gia Hội để tìm kiếm một cơ hội sinh kế. Có người cần được hướng dẫn về chính sách… Có người đến từ những câu lạc bộ, nhóm nhỏ rồi dần tham gia sâu hơn vào hoạt động Hội. Và cũng có những người sau một thời gian được hỗ trợ đã trở thành những người chủ động hỗ trợ lại cho cộng đồng.
Đó là cả quá trình nâng cao nhận thức, nâng cao năng lực cho hội viên: từ người thụ hưởng thành người tham gia chủ động và từ người tham gia trở thành người đóng góp.
Tuy nhiên, bà Huyền cho rằng đây cũng là bài toán đối với những địa phương mà người khuyết tật còn ít cơ hội được tiếp cận các chương trình tập huấn, nâng cao năng lực. Không có đội ngũ đủ năng lực và không có sự tham gia thực chất của người khuyết tật, rất khó để một tổ chức Hội hoạt động lâu dài và hiệu quả.
Bà Huyền cũng nhấn mạnh, một Hội hoạt động tốt không chỉ mang lại lợi ích cho hội viên mà còn có thể trở thành cánh tay nối dài hiệu quả của chính quyền trong công tác người khuyết tật. Hội gần người khuyết tật hơn, hiểu những khó khăn cụ thể hơn và có thể phản ánh kịp thời những vấn đề nảy sinh từ cơ sở…
Vì vậy, điều cần quan tâm không chỉ là thành lập thêm bao nhiêu Hội, mà là mỗi Hội sau khi thành lập có thể làm được gì, có gần hội viên không và có tạo ra được sự thay đổi thực sự hay không.
Theo nhiều ý kiến, đây cũng là lúc cần có những đánh giá đầy đủ hơn về tác động mà các tổ chức của người khuyết tật đã mang lại trong thời gian qua.
Việc đánh giá không nên chỉ dừng ở số lượng tổ chức được thành lập hay số lượng hội viên tham gia, mà cần nhìn vào những thay đổi thực chất trong đời sống người khuyết tật. Bao nhiêu người được tiếp cận chính sách? Bao nhiêu người được nâng cao năng lực, có việc làm, có sinh kế? Bao nhiêu vấn đề từ thực tiễn được phản ánh và được giải quyết thông qua vai trò của tổ chức Hội?…
Những kết quả đó không chỉ giúp khẳng định vai trò của tổ chức người khuyết tật mà còn tạo cơ sở thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện chính sách và mở rộng mạng lưới tổ chức Hội trong giai đoạn tới.
- Một số khuyến nghị từ thực tiễn
Từ những câu chuyện và kinh nghiệm thực tế của các tổ chức người khuyết tật, có thể thấy mục tiêu 80% có ý nghĩa không chỉ với các tổ chức hội, với người khuyết tật mà còn có ý nghĩa tham gia vào đóng góp chính sách, thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Vì vậy, thành lập một tổ chức mới chỉ là điểm khởi đầu. Quan trọng hơn là làm sao để tổ chức ấy có thực lực, có người tham gia và thực sự đại diện được cho người khuyết tật.
Về bảo đảm tiếng nói đại diện trong quá trình sáp nhập và xây dựng tổ chức
Theo ông Đặng Văn Thanh, trước hết cần nhìn nhận đúng vai trò của tổ chức người khuyết tật trong quá trình sắp xếp, tổ chức lại hệ thống hội hiện nay.
Nếu tổ chức của người khuyết tật và tổ chức vì người khuyết tật được sắp xếp, hợp nhất, một câu hỏi cần được đặt ra là: sau sáp nhập, làm thế nào để tiếng nói của người khuyết tật không bị pha loãng?
Theo ông Thanh, điều này cần được tính ngay từ quá trình xây dựng tổ chức mới, từ cơ cấu nhân sự, thành phần tham gia, phương thức hoạt động đến cơ chế ra quyết định. Không nên chỉ nhìn vào tên gọi của tổ chức, mà cần quan tâm tổ chức đó có thực sự để người khuyết tật tham gia, có đại diện cho quyền và lợi ích của họ hay không.
Đây cũng là vấn đề cần được nghiên cứu, hướng dẫn rõ hơn trong thực tiễn. Nếu mục tiêu 80% là để tăng độ phủ của tổ chức người khuyết tật thì càng cần bảo đảm chất lượng đại diện của những tổ chức ấy.
Một tổ chức có tên gọi là tổ chức của người khuyết tật nhưng tiếng nói của người khuyết tật lại không có vị trí tương xứng trong quá trình quyết định thì con số đạt được cũng khó phản ánh đúng ý nghĩa của mục tiêu.
Chính vì vậy, ông Thanh nhấn mạnh vai trò định hướng và sự quan tâm của chính quyền các cấp là yếu tố vô cùng quan trọng, không chỉ dừng ở việc cấp phép thành lập mà cần nghiên cứu, xem xét, tạo điều kiện thuận lợi và có những đánh giá phù hợp với mô hình tổ chức hội của người khuyết tật, đồng thời theo dõi, hỗ trợ để các tổ chức thực sự đi vào hoạt động thực chất, hiệu quả.
Về tham vấn và sự tham gia của chính tổ chức người khuyết tật trong quá trình thực hiện mục tiêu
Ông Thanh cũng cho rằng quá trình thực hiện mục tiêu 80% cần có sự tham gia thực chất của chính các tổ chức người khuyết tật. Những hội thảo, diễn đàn tham vấn với các tổ chức của người khuyết tật ở Trung ương và địa phương sẽ giúp cơ quan quản lý có thêm góc nhìn từ thực tiễn, đồng thời nhận diện rõ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thành lập và duy trì hoạt động của tổ chức Hội. Việc lắng nghe ý kiến từ chính người khuyết tật và các tổ chức đại diện cho họ cũng phù hợp với tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam là thành viên, trong đó nhấn mạnh sự tham gia của người khuyết tật vào các quyết định liên quan đến họ.
Về xây dựng năng lực và chuẩn bị từ đầu cho tổ chức mới
Từ góc độ xây dựng và phát triển tổ chức, bà Nguyễn Thị Lan Anh cho rằng, để một Hội hoạt động tốt sau khi thành lập, cần chuẩn bị kỹ từ con người (ai trong ban lãnh đạo), quy chế hoạt động, chiến lược phát triển Hội, phương hướng hoạt động hàng năm đến việc tập hợp hội viên và xây dựng khả năng duy trì tổ chức lâu dài bao gồm ngân sách và kỹ thuật. Người làm công tác hội tương tự như một nhân viên công tác xã hội cần có tính đại diện và thực hiện được ba nhóm vai trò cốt lõi. Vì vậy họ cần được trang bị kiến thức và kỹ năng về tổ chức, quản lý, vận động chính sách, giám sát, phản biện xã hội, kết nối nguồn lực và hỗ trợ hội viên. Đặc biệt, cần có những chương trình nâng cao năng lực dành cho chính người khuyết tật để họ có thể tham gia ngày càng sâu hơn vào hoạt động hội.
Mục tiêu cuối cùng không phải tạo ra một đội ngũ cán bộ làm thay, mà là giúp những người đồng cảnh có đủ năng lực để tự tham gia, tự đại diện và đóng góp vào tổ chức của mình; xa hơn là chủ động hơn đối với cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng đồng.
Kinh nghiệm của những tổ chức đã có bề dày như Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, Hội Người khuyết tật thành phố Hà Nội, Hội người khuyết tật TP. Đà Nẵng và các tổ chức người khuyết tật ở trung ương cũng như nhiều tỉnh, thành phố, theo bà Lan Anh, cần được phát huy theo hướng chia sẻ, hỗ trợ và bồi dưỡng cho những tổ chức mới.
Về nguồn lực và điều kiện hoạt động bền vững
Bà Lan Anh cũng cho rằng một vấn đề cần tính đến ngay từ đầu là nguồn lực. Một Hội không có điều kiện hoạt động và không thể chủ động được nguồn lực sẽ rất khó duy trì các hoạt động thường xuyên, từ tập huấn, kết nối hội viên đến hỗ trợ sinh kế, giám sát và phản biện chính sách… Vì vậy, cùng với nguồn ngân sách, cần tạo điều kiện để các tổ chức Hội tiếp cận và huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế và cộng đồng. Tuy nhiên, nguồn lực theo hướng bền vững không nên chỉ dừng ở việc giải quyết những nhu cầu trước mắt, mà cần đầu tư vào năng lực tự chủ của tổ chức và khả năng tạo sinh kế cho người khuyết tật.

Bà Đỗ Thị Huyền, Phó Chủ tịch Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam, Chủ tịch Hội Người khuyết tật thành phố Hà Nội (nguồn facebook bà Huyền)
Về sự đồng hành của chính quyền và vai trò của các tổ chức Hội tại địa phương
Từ thực tiễn Hội Người khuyết tật TP. Hà Nội, bà Đỗ Thị Huyền cho rằng một yếu tố rất quan trọng là sự đồng hành của chính quyền các cấp và sự tham gia thực chất của chính người khuyết tật. Một hội hoạt động tốt không chỉ mang lại lợi ích cho hội viên, mà còn có thể trở thành cánh tay nối dài hiệu quả của chính quyền, giúp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề phát sinh từ cộng đồng người khuyết tật. Hội Người khuyết tật Hà Nội không chỉ được nhìn qua con số gần 20.000 hội viên, mà phía sau đó là một quá trình nâng cao năng lực, hỗ trợ sinh kế, kết nối và tạo cơ hội để người khuyết tật tham gia nhiều hơn vào đời sống xã hội. Điều quan trọng là làm sao để ngày càng có nhiều người khuyết tật từ người được hỗ trợ trở thành người có cơ hội tham gia hoà nhập cộng đồng và đóng góp cho xã hội.
Về đánh giá hiệu quả và tác động thực chất
Từ những yêu cầu đó, hiệu quả hoạt động cần trở thành một thước đo quan trọng khi nhìn nhận sự phát triển của tổ chức Hội. Một tổ chức có thể không thực hiện những chương trình quy mô lớn, nhưng nếu giúp người khuyết tật hiểu và bảo vệ được quyền của mình, tiếp cận được sinh kế, tham gia nhiều hơn vào đời sống xã hội hay góp phần tháo gỡ những rào cản trong thực tiễn thì đó đã là những giá trị rất đáng ghi nhận.
Theo ông Thanh, việc đánh giá tác động của các tổ chức người khuyết tật cần được quan tâm đúng mức. Không chỉ là có bao nhiêu hội viên hay tổ chức được thành lập, mà cần nhìn vào những thay đổi cụ thể mà tổ chức đó mang lại: người khuyết tật có được tiếp cận chính sách tốt hơn không, có được nâng cao năng lực, có thêm cơ hội việc làm, sinh kế hay tham gia vào đời sống xã hội không; những kiến nghị từ cơ sở có được tiếp nhận và chuyển hóa thành những thay đổi tích cực hay không. Đó cũng là cách để chính các tổ chức của người khuyết tật chứng minh hiệu quả và giá trị của mình. Khi một tổ chức tạo được niềm tin đối với hội viên, chính quyền và xã hội, đó sẽ là cơ sở để tiếp tục huy động nguồn lực, phát triển bền vững và mở rộng mạng lưới.
Cũng từ thực tiễn đó, ông Thanh cho rằng cần có những đánh giá, tham vấn thường xuyên để việc thực hiện mục tiêu 80% không chỉ dừng ở việc hoàn thành một chỉ tiêu về số lượng. Những kết quả từ thực tế hoạt động của Hội cần được ghi nhận, những khó khăn cần được phản ánh và những mô hình hiệu quả cần được chia sẻ để có thể nhân rộng.
Sau cùng, mục tiêu 80% không chỉ đặt trách nhiệm lên cơ quan quản lý hay chính quyền địa phương. Bản thân các tổ chức của người khuyết tật cũng cần chủ động chứng minh năng lực, hiệu quả và vai trò của mình; người khuyết tật cần mạnh dạn tham gia và lên tiếng; xã hội cần tiếp tục đồng hành; còn những tổ chức đã có kinh nghiệm cần sẵn sàng chia sẻ, hỗ trợ những nơi còn khó khăn.
Và có lẽ, câu hỏi quan trọng nhất vẫn là: sau khi có thêm một tổ chức, người khuyết tật ở địa phương đó sẽ được gì? Họ có biết quyền của mình không? Có nơi để tìm đến khi gặp khó khăn không? Có được tham gia vào những quyết định liên quan đến mình không? Tiếng nói của họ có được chính quyền lắng nghe không? Và tổ chức Hội có đủ năng lực để đi cùng họ trong những vấn đề ấy hay không?…
Nếu giải đáp được những câu hỏi đó, con số 80% mới thực sự trở nên có ý nghĩa.
Tâm Lâm An
