Giữa dòng chảy sôi động của nền kinh tế thị trường, có những doanh nghiệp không chỉ được đo bằng doanh thu hay lợi nhuận, mà còn được đánh giá bằng số phận con người được thay đổi sau cánh cửa xưởng sản xuất. Đó là các doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật – nơi những con người từng bị coi là “gánh nặng” đang từng ngày chứng minh họ có thể trở thành người lao động, người sáng tạo và người tạo việc làm. Tuy nhiên, phía sau những câu chuyện truyền cảm hứng ấy vẫn còn không ít rào cản về vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường. Trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi cấu trúc nền kinh tế, câu hỏi đặt ra không còn là “người khuyết tật có thể làm được gì”, mà là “xã hội sẽ tạo điều kiện như thế nào để họ phát huy hết khả năng của mình”.
Những doanh nghiệp được xây bằng nghị lực
Trong một căn xưởng không quá rộng ở ngoại thành Hà Nội, không có tiếng máy móc, chỉ có tiếng cười nói rộn ràng của những người thợ. Có người bước đi bằng nạng, có người ngồi trên xe lăn, có người đôi bàn tay co quắp vì di chứng bại não. Họ không giống như những gì mà người ta thường hình dung về một xưởng xản xuất đồ thủ công mỹ nghệ tinh sảo, nơi có những nghệ nhân tóc bạc phơ, hay những món đồ trưng bày nhuốm màu thời gian, nhưng ở đây đôi bàn tay của những người thợ “đạc biệt” ấy lại làm ra những sản phẩm được hàng nghìn khách hàng trong và ngoài nước lựa chọn, được vinh dự trưng bày tại triển lãm A80 Thành tựu Độc lập- Tự do và Hạnh phúc và cũng it ai biết rằng, nhiều năm trước, không ít người trong số họ từng sống bằng trợ cấp xã hội, quanh quẩn trong bốn bức tường vì mặc cảm hoặc vì không một doanh nghiệp nào sẵn sàng tuyển dụng.
“Tôi từng nghĩ cuộc đời mình sẽ chỉ quanh quẩn ở nhà, sống dựa vào bố mẹ”, Chị Hạnh nữ công nhân khuyết tật vận động chia sẻ. “Ngày đầu tiên được nhận vào làm việc, điều khiến tôi hạnh phúc nhất không phải tiền lương, mà là cảm giác mình vẫn còn có ích.” Câu chuyện ấy không phải ngoại lệ.
Ở Hà Nội, những người khuyết tật tại Kym Việt đã biến những mảnh vải vụn thành các sản phẩm thủ công tinh xảo, những sản phẩm ở đây đã theo chân các đoàn ngoại giao đến nhiều quốc gia, trở thành quà tặng dành cho nguyên thủ, xuất hiện trên các chuyến bay thương mại. Tại Vụn Art, những người khuyết tật tạo nên các bức tranh ghép vải mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Còn với doanh nghiệp xã hội “Chạm vào Xanh” lại chứng minh rằng ngay cả những người sống chung với bại não vẫn có thể tạo dựng thương hiệu của riêng mình nếu được trao cơ hội.

Ông Phạm Việt Hoài (Chủ tịch HĐQT KimViet) tiếp Công nương Nhật Bản-Kawashima Kiko (Ảnh Internet)
Điểm chung của những doanh nghiệp này không nằm ở quy mô hay doanh thu, mà ở cách họ nhìn nhận con người. Thay vì coi khuyết tật là giới hạn, họ coi đó là một phần của sự đa dạng. Thay vì chỉ tạo việc làm, họ tạo dựng niềm tin, khôi phục lòng tự trọng và mở ra con đường để người khuyết tật sống bằng chính sức lao động của mình. Đó cũng chính là bản chất của doanh nghiệp xã hội.
Khác với doanh nghiệp truyền thống, doanh nghiệp xã hội không chỉ hướng tới lợi nhuận mà còn theo đuổi mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội. Phần lớn lợi nhuận được tái đầu tư nhằm mở rộng tác động tích cực đối với cộng đồng. Với người khuyết tật, mô hình này mang ý nghĩa đặc biệt bởi nó giải quyết đồng thời nhiều bài toán: tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao năng lực, giảm phụ thuộc vào trợ cấp và thúc đẩy hòa nhập xã hội.
Theo thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 7 triệu người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên, tương đương khoảng 7% dân số. Tuy nhiên, chỉ khoảng 30% người khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm ổn định; phần lớn làm các công việc giản đơn với thu nhập thấp và ít cơ hội phát triển. Phía sau những con số ấy là hàng triệu câu chuyện chưa được kể, đó là Thành- chàng thanh niên khiếm thính bị từ chối tuyển dụng chỉ vì doanh nghiệp lo ngại khó giao tiếp, là Hoa- cô gái khuyết tật vận động tốt nghiệp đại học nhưng nhiều tháng không tìm được việc làm vì các tòa nhà văn phòng không có lối đi dành cho xe lăn, là Mai Hương người khiếm thị thành thạo tin học nhưng không thể hoàn thành vòng tuyển dụng do phần mềm thi trực tuyến không hỗ trợ trình đọc màn hình.
Rào cản lớn nhất đối với người khuyết tật nhiều khi không nằm ở khiếm khuyết của cơ thể mà ở những định kiến vô hình và những khoảng trống trong chính sách tiếp cận. Chính trong bối cảnh đó, doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật trở thành một mô hình phát triển đầy nhân văn. Thay vì chờ cơ hội từ thị trường lao động, nhiều người đã tự tạo ra cơ hội cho chính mình và cho những người cùng hoàn cảnh.

Sản phầm của Doanh nghiệp xã hội được tôn vinh khi giải quyết được nhiều việc làm cho người khuyết tật.
Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2014 với các quy định về doanh nghiệp xã hội đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho sự phát triển của mô hình này. Trên cả nước hiện có hàng nghìn doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất kinh doanh do người khuyết tật làm chủ hoặc sử dụng phần lớn lao động là người khuyết tật. Dù quy mô còn khiêm tốn so với gần 300.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 2025, khu vực này vẫn giữ vai trò đặc biệt trong việc bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển bao trùm.
Những năm gần đây, môi trường chính sách dành cho người khuyết tật cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Luật Người khuyết tật năm 2010, Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021–2030 cùng nhiều chính sách về đào tạo nghề, tạo việc làm và hỗ trợ vay vốn đã tạo nền tảng quan trọng để doanh nghiệp xã hội phát triển. Đặc biệt, Thông báo Kết luận số 444-TB/VPTW ngày 5/12/2025 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng về bảo đảm quyền học tập, việc làm, sinh kế và sự tham gia bình đẳng của người khuyết tật, coi việc chăm lo cho người khuyết tật là thước đo của một xã hội văn minh, nhân văn.
Tuy nhiên, chính sách chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ để doanh nghiệp xã hội phát triển vẫn là một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ, từ nguồn vốn, đào tạo kỹ năng, chuyển đổi số đến kết nối thị trường. Khi những mắt xích ấy chưa hoàn chỉnh, nhiều doanh nghiệp vẫn phải tự xoay xở trong hành trình đầy gian nan giữa lý tưởng xã hội và áp lực tồn tại của cơ chế thị trường.
Vì sao DNXH của người khuyết tật vẫn khó lớn?
Nếu chỉ nhìn vào những chuyển biến của chính sách trong vài năm gần đây, nhiều người có thể tin rằng doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật đang đứng trước một “mùa xuân” phát triển. Hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện, nhận thức xã hội thay đổi theo hướng tích cực, kinh tế số mở ra những phương thức kinh doanh mới, còn người tiêu dùng ngày càng sẵn sàng chi trả cho những sản phẩm mang giá trị nhân văn. Thế nhưng, phía sau bức tranh nhiều gam màu sáng ấy vẫn tồn tại một thực tế đáng suy ngẫm: phần lớn doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật vẫn có quy mô rất nhỏ, sức cạnh tranh hạn chế và khó phát triển bền vững. Nghịch lý ấy không phải do họ thiếu ý chí. Càng không phải vì người khuyết tật thiếu năng lực, mà nguyên nhân nằm ở khoảng cách khá lớn giữa chính sách và thực tiễn.
Chính sách đã mở đường, nhưng con đường vẫn còn nhiều chông gai
Trong hơn một thập niên qua, Việt Nam từng bước xây dựng hệ thống chính sách khá toàn diện dành cho người khuyết tật. Luật Người khuyết tật năm 2010 khẳng định quyền được học tập, lao động và tham gia bình đẳng vào đời sống xã hội. Luật Doanh nghiệp lần đầu tiên ghi nhận địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội. Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021–2030 tiếp tục mở rộng các chính sách về đào tạo nghề, tạo việc làm và hỗ trợ sinh kế. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên trong khu vực phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với phát triển bao trùm. Đặc biệt, Thông báo Kết luận số 444-TB/VPTW của Tổng Bí thư Tô Lâm cuối năm 2025 được nhiều chuyên gia đánh giá là một dấu mốc quan trọng khi nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền học tập, việc làm, sinh kế và khởi nghiệp của người khuyết tật; coi việc chăm lo cho người khuyết tật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và là thước đo của một xã hội văn minh, nhân văn.
Không chỉ Nhà nước, nhiều tổ chức quốc tế như UNDP, ILO, USAID cùng các quỹ phát triển đã đầu tư hàng triệu USD cho các chương trình đào tạo nghề, khởi nghiệp, chuyển đổi số và hỗ trợ sinh kế dành cho người khuyết tật. Nếu như cách đây hai mươi năm, khái niệm “khởi nghiệp của người khuyết tật” còn rất xa lạ thì nay, nhiều cuộc thi ý tưởng sáng tạo, chương trình tăng tốc khởi nghiệp và các khóa đào tạo quản trị doanh nghiệp đã bắt đầu dành riêng cho nhóm đối tượng này.
Đó là những tín hiệu tích cực. Nhưng giống như việc có một con đường đẹp chưa đồng nghĩa với mọi chiếc xe đều có thể chạy nhanh, doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật vẫn gặp vô vàn lực cản ngay từ những bước đi đầu tiên.
Một thị trường ngày càng trân trọng giá trị nhân văn

Doanh nhân “Chạm vào xanh” được tôn vinh TOP 10 danh dự cho
Doanh nhân khởi nghiệp xuất sắc năm 2026 (Ảnh Internet)
Sự thay đổi lớn nhất trong những năm gần đây không phải ở chính sách, mà nằm trong chính hành vi của người tiêu dùng. Khảo sát tại nhiều quốc gia cho thấy, thế hệ khách hàng trẻ không còn lựa chọn sản phẩm chỉ vì giá rẻ hay mẫu mã đẹp. Họ quan tâm nhiều hơn đến câu chuyện phía sau sản phẩm: được làm ở đâu, bởi ai, có thân thiện với môi trường hay không và có tạo ra giá trị xã hội hay không.
Xu hướng tiêu dùng có trách nhiệm ấy mở ra cơ hội đặc biệt đối với doanh nghiệp xã hội. Một con búp bê do người khuyết tật làm ra không chỉ là món đồ lưu niệm, một bức tranh ghép từ vải vụn không chỉ là sản phẩm thủ công mà người mua trả tiền cho sự sáng tạo, cho nghị lực sống và cho niềm tin rằng mỗi đồng tiền họ bỏ ra đang góp phần tạo việc làm cho một người yếu thế.
Đó là lý do nhiều doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật đã từng bước xây dựng được thương hiệu riêng, thậm chí đưa sản phẩm vào các sự kiện ngoại giao, các chuyến bay thương mại và chuỗi quà tặng cao cấp.
Nhưng lợi thế ấy cũng rất mong manh, bởi một thương hiệu không thể tồn tại lâu dài nếu chỉ dựa vào lòng trắc ẩn của khách hàng. Điều giữ chân người tiêu dùng cuối cùng vẫn phải là chất lượng, thiết kế, dịch vụ và khả năng cạnh tranh, đây cũng là bài toán mà nhiều doanh nghiệp xã hội đang loay hoay tìm lời giải.
Chuyển đổi số, cơ hội lớn nhất cũng là phép thử khắc nghiệt nhất
Nếu hỏi điều gì đang thay đổi số phận của nhiều doanh nghiệp xã hội nhanh nhất, câu trả lời có lẽ là Internet. Mười năm trước, cơ sở sản xuất “Hoa trên đá” của người khuyết tật ở Hà Giang gần như chỉ có thể bán hàng trong phạm vi địa phương. Ngày nay, với một chiếc điện thoại thông minh, một phiên livestream hay một gian hàng trên sàn thương mại điện tử, sản phẩm ấy có thể tiếp cận khách hàng trên cả nước, thậm chí ở nước ngoài.
Nhiều doanh nghiệp xã hội đã tận dụng Facebook, TikTok Shop, Shopee hay các nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới để mở rộng thị trường với chi phí rất thấp. Không ít người khuyết tật cũng tìm được việc làm từ xa trong các lĩnh vực thiết kế đồ họa, chăm sóc khách hàng trực tuyến, lập trình, dịch thuật hay sáng tạo nội dung số.
Đối với người khuyết tật, công nghệ số không chỉ là công cụ kinh doanh, đó còn là phương tiện xóa bỏ nhiều rào cản về khoảng cách địa lý và khả năng di chuyển. Khi, một người ngồi xe lăn không còn phải chen chúc trên xe buýt để đến văn phòng, một người khiếm thính có thể trao đổi với khách hàng qua tin nhắn, một người khuyết tật vận động có thể điều hành cả một cửa hàng trực tuyến ngay trong căn phòng nhỏ của mình Đó là điều mà trước đây rất khó hình dung, nhưng cũng chính cuộc cách mạng số ấy đang tạo ra một khoảng cách mới.
Trong nhiều khóa đào tạo khởi nghiệp dành cho người khuyết tật, không ít học viên lần đầu tiên biết đến khái niệm quảng cáo số, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu hay tối ưu hóa công cụ tìm kiếm. Nhiều chủ doanh nghiệp vẫn ghi chép đơn hàng bằng sổ tay và không ít cơ sở sản xuất chưa có website.
Việc ứng dụng AI trong quản lý, marketing hay chăm sóc khách hàng vẫn còn rất xa vời. Khoảng cách số ấy đang trở thành khoảng cách cạnh tranh.
Thiếu vốn – điểm nghẽn lớn nhất của mọi khát vọng
Có một câu nói khá phổ biến trong giới khởi nghiệp: “Ý tưởng có thể thay đổi thế giới, nhưng vốn mới giúp ý tưởng tồn tại.” Đối với doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật, điều này càng đúng. Trong quá trình khảo sát nhiều mô hình trên cả nước, chúng tôi từng gặp một doanh nhân khuyết tật phải mất gần ba năm mới vay được khoản vốn đầu tiên chỉ hơn 300 triệu đồng, không phải dự án của anh thiếu khả thi, ngân hàng đánh giá kế hoạch kinh doanh tốt và khách hàng đã có, đơn hàng cũng có- Điều duy nhất anh không có là tài sản bảo đảm.
Một chiếc xe lăn không thể trở thành tài sản thế chấp, một căn nhà đứng tên cha mẹ cũng không đủ điều kiện pháp lý. Cuối cùng, khoản vay chỉ được giải ngân khi một người bạn chấp nhận đứng ra bảo lãnh, đó không phải câu chuyện hiếm gặp.
Phần lớn doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật đều khởi đầu với nguồn vốn rất nhỏ, trong khi việc tiếp cận tín dụng ưu đãi, quỹ đầu tư tác động hay các chương trình hỗ trợ vẫn còn nhiều rào cản về thủ tục và năng lực lập dự án.
Thiếu vốn kéo theo hàng loạt hệ lụy như không thể đầu tư máy móc, không thể mở rộng nhà xưởng, không đủ nguồn lực nghiên cứu sản phẩm mới, không có ngân sách truyền thông. Và cuối cùng, doanh nghiệp bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của quy mô nhỏ, lợi nhuận thấp và khó tích lũy để phát triển.
Bài toán “thiếu nhân lực” không chỉ của người khuyết tật
Nếu vốn là điều kiện để doanh nghiệp hình thành thì con người là yếu tố quyết định sự phát triển lâu dài. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp xã hội không thiếu lao động mà thiếu lao động có kỹ năng. Qua các phiên hội chợ việc làm cho người khuyết tật tại Hà Nội đã bộc lộc thực trạng đáng lo ngại “Không ít người khuyết tật chưa được đào tạo nghề bài bản, thiếu ngoại ngữ, hạn chế về kỹ năng số và quản trị doanh nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp lại phải dành nhiều thời gian và chi phí để đào tạo lại từ đầu.”
Điều đáng nói hơn là nhiều lao động giỏi sau khi tích lũy đủ kinh nghiệm lại chuyển sang doanh nghiệp khác có mức thu nhập cao hơn. Đó là quy luật bình thường của thị trường lao động, nhưng với doanh nghiệp xã hội vốn quy mô nhỏ, mỗi lần mất đi một lao động có tay nghề là một lần phải bắt đầu lại quá trình đào tạo. Bài toán nhân lực vì thế chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của người khuyết tật, đó là bài toán của cả hệ thống giáo dục nghề nghiệp, của chính sách đào tạo lại, của chuyển đổi số và của một thị trường lao động đang thay đổi rất nhanh.
Vượt qua định kiến để không bị bỏ lại phía sau
Có một nghịch lý vẫn đang tồn tại trong sự phát triển của doanh nghiệp xã hội dành cho người khuyết tật ở Việt Nam. Chúng ta đã nói nhiều về tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Chính sách ngày càng đầy đủ hơn. Công nghệ đang mở ra những cơ hội chưa từng có. Thị trường cũng bắt đầu nhìn nhận giá trị của những sản phẩm mang tính nhân văn. Nhưng nếu nhìn vào quy mô của phần lớn doanh nghiệp xã hội hiện nay, có thể thấy tốc độ phát triển vẫn còn khá chậm.
Đó không phải là câu chuyện của một doanh nghiệp, mà đó là câu chuyện của cả một hệ sinh thái.
Những bậc tam cấp vẫn là rào cản lớn hơn cả khuyết tật
Hoài- Giám đốc của Kim Việt là một “doanh nhân ngồi xe lăn” từng chia sẻ với tôi, một câu chuyện rất giản dị “Anh đến gặp đối tác để ký hợp đồng, chiếc ô tô dừng ngay trước cửa tòa nhà. Nhưng giữa anh và phòng họp là mười bậc tam cấp, mà không có đường dốc, không có thang máy và bốn người phải khiêng cả xe lăn cùng anh lên cầu thang. Khi cuộc họp bắt đầu, điều khiến anh ngại ngùng nhất không phải là thương vụ trị giá hàng trăm triệu đồng, mà là cảm giác mình vừa trở thành “gánh nặng” cho những người xung quanh”
Đó là một câu chuyện nhỏ, nhưng nó phản ánh một thực tế lớn “Rào cản đối với người khuyết tật không chỉ nằm trong cơ thể họ mà còn nằm ở môi trường mà xã hội tạo ra” Một doanh nghiệp có thể đầu tư hàng tỷ đồng vào máy móc hiện đại, nhưng nếu người lao động ngồi xe lăn không thể đi vào nhà vệ sinh, không thể sử dụng thang máy hay không thể tự mình lên xe buýt để đến nơi làm việc thì mọi khẩu hiệu về bình đẳng cũng trở nên thiếu ý nghĩa.
Theo khảo sát của nhiều tổ chức hoạt động trong lĩnh vực người khuyết tật, khả năng tiếp cận của các công trình công cộng, nhà xưởng, phương tiện giao thông và không gian làm việc vẫn là một trong những rào cản lớn nhất đối với lao động khuyết tật. Không ít doanh nghiệp xã hội phải tự đầu tư đường dốc, thang máy, nhà vệ sinh chuyên dụng và các thiết bị hỗ trợ với chi phí rất lớn so với quy mô của mình. Ở nhiều quốc gia phát triển, chi phí xây dựng công trình tiếp cận được coi là một phần tất yếu của phát triển hạ tầng, nhưng ở Việt Nam, nhiều doanh nghiệp xã hội vẫn phải coi đó là một khoản đầu tư “bất đắc dĩ”. Nếu hạ tầng tiếp cận không được cải thiện, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp xã hội sẽ luôn cao hơn các doanh nghiệp thông thường. Đó là một sự bất bình đẳng rất khó nhìn thấy bằng những con số thống kê.
Định kiến – rào cản vô hình nhưng dai dẳng nhất
Nếu hỏi nhiều doanh nhân khuyết tật điều gì khiến họ mệt mỏi nhất, rất ít người trả lời là thiếu vốn. mà điều họ nhắc đến nhiều hơn lại là sự nghi ngờ.
“Tôi không nghĩ người khuyết tật làm được.”, “Tôi sợ chất lượng sản phẩm không ổn.”. “Tôi chỉ mua để ủng hộ.” Ba câu nói ấy tưởng như vô hại, nhưng lại phản ánh một định kiến đã tồn tại rất lâu trong xã hội rằng rất nhiều người vẫn nhìn doanh nghiệp của người khuyết tật bằng lăng kính của lòng thương hại thay vì sự tôn trọng. Họ mua sản phẩm vì muốn giúp đỡ, nhưng lại không tin sản phẩm ấy đủ sức cạnh tranh, đó là điều đáng tiếc, bởi một doanh nghiệp không thể tồn tại lâu dài bằng lòng trắc ẩn mà tất cả các doanh nghiệp chỉ tồn tại khi khách hàng tin vào chất lượng.
Một doanh nhân khuyết tật từng nói “Điều chúng tôi cần không phải là sự thương hại. Chúng tôi cần một cơ hội cạnh tranh công bằng.” Có lẽ đó cũng là mong muốn chung của hàng nghìn doanh nghiệp xã hội trên cả nước. Thực tế đã chứng minh, khi được trao cơ hội bình đẳng, nhiều doanh nghiệp của người khuyết tật hoàn toàn có thể tạo ra những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, điều họ thiếu không phải là năng lực, mà là cơ hội để chứng minh năng lực ấy.
Khi AI không chỉ là cơ hội mà còn là phép sàng lọc
Trong vài năm gần đây, trí tuệ nhân tạo (AI) đã trở thành chủ đề được nhắc đến nhiều nhất trong các diễn đàn kinh tế. AI có thể viết báo cáo, thiết kế hình ảnh, dịch thuật, chăm sóc khách hàng, phân tích dữ liệu, lập trình, thậm chí tạo ra cả chiến lược marketing..v.v
Đối với người khuyết tật, AI mở ra những cơ hội chưa từng có, khi người khiếm thị có thể sử dụng AI để đọc văn bản, người khiếm thính có thể chuyển giọng nói thành phụ đề thời gian thực, người khuyết tật vận động thể mất haowcj liệt 2 chi trên vẫn có thể điều khiển máy tính bằng giọng nói. Những công cụ mà cách đây mười năm còn được coi là công nghệ của tương lai nay đã trở thành hiện thực, nhưng AI cũng đang tạo ra một sức ép rất lớn.

Doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật tham gia đóng góp ý kiên tại diễn đàn về AI
Những công việc đơn giản như nhập liệu, phân loại dữ liệu, thiết kế cơ bản hay chăm sóc khách hàng theo kịch bản đang dần được tự động hóa, đó lại chính là những lĩnh vực từng tạo nhiều việc làm cho người khuyết tật. Nếu không được đào tạo lại, hàng chục nghìn lao động khuyết tật có nguy cơ mất lợi thế cạnh tranh.
Nói cách khác, AI không làm giảm cơ hội của người khuyết tật mà AI chỉ làm giảm cơ hội của những người không được chuẩn bị. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển trọng tâm từ đào tạo nghề truyền thống sang đào tạo kỹ năng số, kỹ năng sử dụng AI, thương mại điện tử, phân tích dữ liệu và quản trị doanh nghiệp số. Trong tương lai gần, khả năng sử dụng AI sẽ trở thành một kỹ năng nghề nghiệp cơ bản, giống như việc biết sử dụng máy tính ngày nay.
Già hóa dân số – thách thức ít được nhắc tới
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất châu Á, điều này không chỉ tạo áp lực lên hệ thống an sinh xã hội, mà nó còn làm thay đổi cấu trúc thị trường lao động.
Trong vài thập niên tới, số người có những hạn chế về vận động, thị giác, thính giác sẽ tăng lên rất nhanh. Khái niệm “thiết kế tiếp cận” sẽ không còn chỉ dành cho người khuyết tật, nó sẽ trở thành nhu cầu của hàng chục triệu người cao tuổi. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội, khi những doanh nghiệp xã hội hiểu rõ nhu cầu của người khuyết tật hôm nay hoàn toàn có thể trở thành những doanh nghiệp dẫn đầu trong thị trường sản phẩm và dịch vụ dành cho người cao tuổi ngày mai. Đó sẽ là một thị trường có quy mô rất lớn, nhưng để nắm bắt được cơ hội ấy, doanh nghiệp cần vốn, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Xây dựng một hệ sinh thái thay vì chỉ hỗ trợ từng doanh nghiệp
Thực tế cho thấy, rất ít doanh nghiệp xã hội thất bại vì thiếu nhiệt huyết, mà họ thất bại vì phải tự mình giải quyết quá nhiều vấn đề cùng một lúc, vừa sản xuất, vừa đào tạo lao động, vừa tìm thị trường, vừa làm marketing, vừa huy động vốn, vừa học chuyển đổi số…và mỗi doanh nghiệp đều phải tự đi một mình, hành trình ấy sẽ rất dài.
Điều cần thiết lúc này không chỉ là hỗ trợ từng doanh nghiệp riêng lẻ mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ sinh thái phát triển. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo bằng việc hoàn thiện chính sách ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật; phát triển các quỹ tín dụng ưu đãi và quỹ đầu tư tác động; mở rộng mua sắm công đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp xã hội; đồng thời ban hành các tiêu chuẩn bắt buộc về công trình và hạ tầng tiếp cận.
Các trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gắn với kỹ năng số, AI, thương mại điện tử và quản trị doanh nghiệp. Những khóa học không chỉ dành cho người lao động mà còn phải hướng đến đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp xã hội, giúp họ đủ năng lực quản trị trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Các doanh nghiệp lớn cũng có thể trở thành một phần của lời giải thông qua việc đưa doanh nghiệp xã hội vào chuỗi cung ứng, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp do người khuyết tật làm chủ. Đây không phải là hoạt động từ thiện, mà là thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp theo hướng tạo ra giá trị bền vững.
Về phía các tổ chức xã hội và tổ chức quốc tế, cần chuyển mạnh từ mô hình hỗ trợ ngắn hạn sang đồng hành dài hạn. Thay vì chỉ tài trợ thiết bị hoặc vốn ban đầu, cần đầu tư vào nâng cao năng lực quản trị, phát triển sản phẩm, kết nối thị trường và chuyển giao công nghệ. Một doanh nghiệp có thể tồn tại nhiều năm nếu được trang bị năng lực; nhưng sẽ rất khó phát triển nếu chỉ nhận những khoản hỗ trợ mang tính thời điểm.
Với chính các doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật, yêu cầu đặt ra cũng cao hơn trước. Bên cạnh giá trị nhân văn, họ cần coi chất lượng sản phẩm, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị hiện đại là nền tảng để cạnh tranh. Lòng nhân ái của người tiêu dùng có thể mở cánh cửa đầu tiên, nhưng chỉ chất lượng và uy tín mới giữ được khách hàng lâu dài.
Đầu tư cho doanh nghiệp xã hội là đầu tư cho tương lai của nền kinh tế
Trình độ phát triển của một quốc gia không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP, mà còn bằng cách quốc gia ấy đối xử với những người yếu thế nhất, doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật chính là nơi phản chiếu rõ nhất tinh thần ấy.
Ở đó, một công việc không chỉ tạo ra thu nhập, nó trả lại lòng tự trọng. Một doanh nghiệp không chỉ bán sản phẩm mà còn tạo ra niềm tin.
Một chính sách không chỉ hỗ trợ một nhóm đối tượng, nó quyết định liệu nền kinh tế có thực sự bao trùm hay không. Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, sẽ không thể có một nền kinh tế hiện đại nếu hàng triệu người khuyết tật vẫn đứng ngoài quá trình phát triển. Đầu tư cho doanh nghiệp xã hội của người khuyết tật vì thế không đơn thuần là thực hiện chính sách an sinh, mà là đầu tư vào nguồn nhân lực, vào đổi mới sáng tạo và vào sức cạnh tranh của chính nền kinh tế.
Khi những người từng bị coi là “đối tượng cần trợ giúp” trở thành những doanh nhân tạo việc làm, đóng thuế, xuất khẩu sản phẩm và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, đó không chỉ là thành công của riêng họ. Đó là thành công của một quốc gia biết biến tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” thành hành động cụ thể, và biến lòng nhân ái thành động lực cho phát triển bền vững.
Nhật Nam
