Từ kế hoạch hóa gia đình đến dân số và phát triển”- bước chuyển ý toàn diện của Đảng và Nhà nước

(ĐHVO). Triển khai thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa VII của Đảng về chính sách Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), Chính phủ đã phê duyệt các Chiến lược DS-KHHGĐ 2001-2010. Để chính sách dân số tiếp tục phát huy hiệu quả, phù hợp với tình hình mới, ngày 4-1-2016, Ban Bí thư TW đã ban hành Kết luận số 119-KL/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ, trong đó xác định rõ trong giai đoạn tới phải chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế KHHGĐ sang giải quyết toàn diện các vấn đề dân số theo định hướng giải quyết tốt quan hệ dân số và phát triển. Kết luận này là sự chuyển hướng có tính bước ngoặt về định hướng chính sách dân số trong tình hình hiện nay thể hiện bước chuyển ý toàn diện của Đảng ta.

1. Lý do chuyển trọng tâm Chính sách dân số

Sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc giải quyết các vấn đề dân số đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; đồng thời xác định việc kiểm soát quy mô dân số, giảm tốc độ gia tăng quy mô dân số là vấn đề trọng tâm. Chính phủ đã ban hành Quyết định số 216-CP ngày 26-12-1961 về việc sinh đẻ có hướng dẫn, khởi đầu cho chương trình dân số Việt Nam, hướng đến mục tiêu giảm mức sinh đẻ để kiểm soát tốc độ tăng dân số ở miền Bắc. Và ngày 26-12 được gọi là ngày “Dân số Việt Nam”

Sau năm 1975,  công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) được triển khai trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn hạn chế. Năm 1989, Dân số Việt Nam theo kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở là 64,4 triệu người, tăng gấp 2,2 lần so với 1960. Tỷ lệ phát triển dân số vẫn còn ở mức 2,3%, số con trung bình của mỗi cặp vợ chồng xấp xỉ gần 4 con, số dân tăng lên hàng năm khoảng 1,5 triệu người, tương đương dân số một tỉnh.

Nhận thức tầm quan trọng của việc giảm quy mô dân số đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá VII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993 với trọng tâm là thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình, khẳng định “Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế – xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi. Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt” … Vì vậy mục tiêu của chính sách dân số trong giai đoạn đó đã nhấn mạnh trọng tâm: “Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai con, để tới năm 2015 bình quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI. Tập trung mọi nỗ lực nhằm tạo chuyển biến rõ rệt ngay trong thập kỷ 90 này[1].

Như vậy, lần đầu tiên Đảng ta có một văn bản hoàn chỉnh và khoa học về chính sách dân số. Nghị quyết xác định 5 quan điểm, 3 giải pháp chủ yếu để triển khai có kết quả công tác dân số. Trong đó tập trung đầu tư ngân sách nhà nước, xây dựng bộ máy chuyên trách và huy động sự tham gia của toàn xã hội, khẳng định vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân số.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII của Đảng, Chính phủ đã phê duyệt các Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000, Chiến lược Dân số Việt Nam 2001-2010. Để đôn đốc, chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng như Chỉ thị 50/CT-TW ngày 5-3-1995 của Ban Bí thư Trung ương, Nghị quyết 47-NQ/TW ngày 23-5-2005 của Bộ Chính trị và nhiều văn bản khác. Cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính trị lúc bấy giờ nước ta đã đạt được thành công đối với các mục tiêu của chính sách dân số đặt ra. Việt Nam đã đi qua thời kỳ quá độ dân số chuyển từ mức sinh cao xuống mức sinh thấp. Nước ta đã đạt mức sinh thay thế khoảng năm 2005 (trước 10 năm so với mục tiêu đặt ra). Mức sinh của nước ta có xu hướng tiếp tục giảm chậm trong những năm tiếp theo. 21 tỉnh/thành phố ở nước ta đang có mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế cần thiết là những bằng chứng rõ rệt nhất. Các dấu hiệu về thiếu nguồn cung ứng lao động cho nhiều doanh nghiệp ở vùng Đông Nam Bộ đã bắt đầu xuất hiện.

Để chính sách dân số tiếp tục phát huy hiệu quả, phù hợp với điều kiện và tình hình mới, ngày 4-1-2016, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Kết luận số 119-KL/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ, trong đó xác định rõ trong giai đoạn tới phải chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế KHHGĐ sang giải quyết toàn diện các vấn đề dân số theo định hướng giải quyết tốt quan hệ dân số và phát triển. Kết luận này là sự chuyển hướng có tính bước ngoặt về định hướng chính sách dân số của Đảng ta trong tình hình hiện nay.

Duy trì mức sinh thay thế đảm bảo nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, thích ứng già hòa dân số, kiểm soát tỉ số giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số, phân bố dân số hợp lý là trọng tâm bao trùm quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dân số trong giai đoạn hiện nay là. Điều này được thể hiện trong nghị quyết 21 về Dân số năm 2017 của Đảng ta thể hiện rõ ràng việc  chuyển trọng tâm chính sách từ dân số-kế hoạch hóa gia đình sang dân số-phát triển. Nghị quyết này thể hiện được ý nghĩa sâu sắc và toàn diện công tác Dân số và phát triển của nước ta hiện nay. Thực hiện tốt nghị quyết này góp phần khẳng định thể hiện rõ bước chuyển ý toàn diện của Đảng ta.

Mục tiêu Nghị quyết 21 của Đảng về công tác Dân số trong tình hình mới là: Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế – xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Đến năm 2030:

– Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người.

Giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng; 50% số tỉnh đạt mức sinh thay thế; mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại; giảm 2/3 số vị thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn.

– Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc có dưới 10 nghìn người, đặc biệt là những dân tộc có rất ít người.

– Tỉ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỷ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%.

– Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%; giảm 50% số cặp tảo hôn, giảm 60% số cặp hôn nhân cận huyết thống; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.

– Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

– Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm. Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á.

– Tỷ lệ dân số đô thị đạt trên 45%. Bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý ở vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Bảo đảm người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.

– 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên quy mô toàn quốc.

Từ năm 2017 đến nay, chúng ta đã tích cực thực hiện công tác Dân số trong tình hình mới theo nghị quyết số 21–NQ/TW của Đảng, phấn đấu đạt mục tiêu đã đề ra. Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện cũng gặp một số khó khăn, thách thức nhất định cần phải có những giải pháp cụ thể.

2. Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực hiện

* Vấn đề KHHGĐ và kiểm soát quy mô dân số

Có 2 điểm đáng chú ý trong chương trình KHHGĐ và định hướng mục tiêu kiểm soát quy mô dân số nước ta trong thời gian tới: 1/ Chúng ta đã đạt được mức sinh thay thế từ năm 2006 và trong 10 năm qua, liên tục duy trì mức sinh này; 2/Trong mặt bằng chung, cả nước đạt mức sinh thay thế, nhưng có những khu vực (Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long) mức sinh đã suy giảm nhanh, dưới mức sinh thay thế. Trong khi đó, một số khu vực khác (Tây Nguyên, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung) mức sinh vẫn còn cao.

Những bằng chứng trên là cơ sở thực tiễn cho việc chuyển đổi chính sách từ thực hiện mục tiêu giảm sinh sang duy trì mức sinh thay thế (TFR=2-2,1 con) nhằm giảm tốc độ già hóa dân số và suy giảm lực lượng lao động. Duy trì mức sinh thay thế cũng đòi hỏi tiếp tục thực hiện các chính sách giảm sinh ở khu vực có mức sinh cao, nâng dần mức sinh ở các khu vực mà mức sinh đã xuống thấp với các chính sách khuyến sinh phù hợp. Để thực hiện mục tiêu này, đòi hỏi nhu cầu đầu tư, đảm bảo đáp ứng các nhu cầu về cung cấp phương tiện, dịch vụ KHHGĐ cho nhân dân, đặc việt là vị thành niên, thanh niên và thực hiện các chính sách.

  • Vấn đề Già hóa dân số và các giải pháp thích ứng

Theo quy ước về nhân khẩu học, từ năm 2011 dân số Việt Nam đã chính thức bước vào quá trình già hóa dân số với 7% dân số trong độ tuổi từ 65 trở lên. Tương ứng, số lượng tuyệt đối khoảng 6,5 triệu người vào thời điểm hiện nay. Tốc độ già hóa của dân số nước ta rất nhanh, chỉ cần khoảng 15-17 năm cho quá trình này và do đó, chúng ta sẽ đạt ngưỡng dân số già vào trước năm 2030. Lúc đó, nhóm dân số từ tuổi 65+  khoảng 15 triệu người và tiếp tục tăng lên khoảng 24-25 triệu người vào năm 2049.

Già hóa dân số tạo ra cơ hội cho việc phát huy kinh nghiệm phong phú của người cao tuổi, đồng thời cũng đặt ra các thách thức trong việc xây dựng một xã hội phù hợp với người cao tuổi cả về cơ sở hạ tầng, sản xuất hàng hóa, dịch vụ, giao thông, y tế, chính sách lao động, việc làm và hưu trí, tổ chức các cơ sở dịch vụ chăm sóc… và việc xây dựng các chính sách để thực hiện những nội dung này phải được chuẩn bị càng sớm càng tốt, để có thể tận dụng tốt nhất các yếu tố cơ hội và hạn chế các tác động tiêu cực của hiện tượng này.

  • Vấn đề Dân số vàng và giai đoạn “cửa sổ cơ hội” trong cơ cấu dân số

Đặc điểm nổi bật trong cơ cấu dân số Việt Nam hiện đang ở giai đoạn “cửa sổ cơ hội”, “cơ cấu dân số vàng”… Đặc trưng của hiện tượng này là trong cơ cấu tuổi của dân số, số người trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) nhiều gấp đôi số người trong độ tuổi phụ thuộc (tổng cộng số trẻ em từ 14 tuổi trở xuống và người cao tuổi từ 65 trở lên). Điều đó cũng đồng nghĩa là tỷ trọng và số lượng dân số tiềm năng tham gia lực lượng lao động rất lớn. Dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn có cơ cấu “dân số vàng” vào năm 2007, đạt đỉnh điểm về tỷ trọng vào khoảng 2017-2018, kéo dài khoảng 35 năm và chỉ xảy ra một lân duy nhất trong  lịch sử chuyển đổi nhân khẩu học.

Những giải pháp chủ yếu để tận dụng thành công những cơ hội mà cơ cấu “dân số vàng” đưa lại, là: thu hút mạnh đầu tư cả từ trong nước và nước ngoài; thực hành chính sách tiết kiệm; có chính sách tạo thuận lợi cho phát triển các doanh nghiệp để tạo nhiều công ăn việc làm, thu hút tối đa lực lượng lao động; tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua việc tổ chức tốt chăm sóc sức khỏe nhân dân; đầu tư mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, đặc biệt là giáo dục chuyên nghiệp… Đó là bài học rất quý đối với một nước đi sau như chúng ta.

  • Vấn đề Mất cân bằng giới tính khi sinh

Giới tính khi sinh tự nhiên (được hiểu là cân bằng) được quy ước ở khoảng 103-107 bé trai sinh ra sống so với 100 bé gái sinh ra sống. Ở nước ta, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh được ghi nhận từ những năm 2005-2006 khi mà tỷ số này ở mức 109/100 và tăng lên rất nhanh, đạt đến mức xấp xỉ 113/100 vào năm 2015. Mất cân bằng giới tính khi sinh dẫn đến tình trạng thừa nam thiếu nữ ở độ tuổi trưởng thành, kết hôn. Hệ quả của tình trạng này là phá vỡ “thị trường hôn nhân” và kết cấu gia đình, gia tăng tình trạng mua bán phụ nữ và trẻ em gái, tác động tiêu cực đến trật tự an ninh… nhất là ở các khu vực vùng sâu, vùng xa nơi có điều kiện khó khăn, nam thanh niên đến tuổi trưởng thành không có cơ hội tìm bạn đời.

Nếu xu hướng này tiếp tục diễn ra thì theo dự báo của Quỹ dân số Liên hiệp quốc, đến giữa thế kỷ này, ở nước ta sẽ dư thừa từ 2,3 đến 4,3 triệu nam giới trong độ tuổi trưởng thành. Nguyên nhân của hiện tượng này là sự hợp thành của 3 nhóm nguyên nhân gồm: sự ưa thích phải có con trai để “nối dõi tông đường” trong văn hóa nho giáo; sự lạm dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ giúp chẩn đoán sớm giới tính thai nhi và can thiệp lựa chọn giới tính thai nhi; “quy luật dừng” trong sinh đẻ (mong muốn sinh ít con trở thành chuẩn mực xã hội phổ biến) và hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi thiếu hoàn chỉnh.

Thách thức này đặt ra những yêu cầu cấp bách cho công tác dân số ở nước ta, đó là: kiểm soát giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, nhanh chóng đưa tỷ số này trở lại mức cân bằng tự nhiên bằng các biện pháp tổng hợp, đồng bộ và mạnh mẽ về truyền thông giáo dục, thực hiện bình đẳng giới; thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm vi phạm pháp luật về nghiêm cấm chẩn đoán và can thiệp lựa chọn giới tính thai nhi và giới tính khi sinh; cải thiện hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi, nâng cao vị thể của phụ nữ…

  • Vấn đề Di cư và phân bổ dân cư hợp lý

Dưới tác động của sự phát triển kinh tế và đô thị hóa, di cư ở nước ta diễn ra với cường độ lớn và phạm vi ngày càng rộng. Nơi các luồng di cư đến là các khu vực đô thị và các khu công nghiệp, tập trung ở khu vực Đông Nam Bộ và xung quanh Hà Nội. Nơi dân đi là khu vực nông thôn, tập trung ở khu vực đồng bằng sông Cửu long, duyên hải miền Trung.

Di cư là hiện tượng tất yếu, diễn ra theo quy luật “hút – đẩy”, không thể can thiệp có hiệu quả bằng các biện pháp hành chính. Di cư có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế, nhất là ở nơi đến, tạo thu nhập cho người di cư và gia đình họ. Nhưng mặt khác, những người di cư thường khó tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, đời sống sinh hoạt khó khăn, gây ra nhu cầu đột biến, dẫn đến quá tải về giao thông trong các dịp lễ, Tết, việc chăm sóc người cao tuổi và trẻ em ở nơi đi bị hạn chế…

Phát triển đồng đều giữa các khu vực, hoàn thiện hạ tầng giao thông và cơ sở hạ tầng thiết yếu, có chính sách ưu tiên thu hút đầu tư đối với khu vực kinh tế – xã hội kém phát triển hơn… là những vấn đề cần được xem xét, thực hiện để điều chỉnh các dòng di cư, phân bổ dân số hợp lý hơn.

  • Vấn đề Chất lượng dân số và nâng cao chất lượng dân số

Chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần là yếu tố cần được quan tâm hàng đầu. Với nhiều chính sách và chương trình cụ thể được thực hiện, chất lượng dân số Việt Nam đã được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng dân số nước ta cũng còn nhiều hạn chế: tỷ lệ dân số bị khuyết tật, bao gồm cả số thiểu năng về trí tuệ, hạn chế về thể lực còn khá cao; tỷ lệ tử vong trẻ em và suy dinh dưỡng thể thấp còi còn cao; tuổi thọ khỏe mạnh bình quân thấp; tỷ lệ lao động được đào tạo về nghề nghiệp thấp…

Một kế hoạch tổng thể, đồng bộ can thiệp nâng cao chất lượng dân số cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần cần được xây dựng và thực hiện theo nguyên lý vòng đời. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể, hình thành lối sống lành mạnh, loại trừ dần các hủ tục, đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, xây dựng nền văn hóa mới tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… là những nội dung đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo. Vấn đề đặt ra là cần phải có những giải pháp tích cực kèm theo được triển khai đồng bộ và hiệu quả.

3. Kết luận:

Để thực hiện có hiệu quả sự chuyển hướng có tính bước ngoặt trong định hướng chính sách dân số của Đảng ta trong bối cảnh, điều kiện và tình hình mới, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, liên quan đến các khía cạnh như: chuyển đổi chính sách dân số từ việc điều chỉnh số lượng dân số sang chú trọng nâng cao chất lượng dân số; từ việc tập trung chủ yếu vào KHHGĐ hướng đến mục tiêu giảm sinh sang giải quyết toàn diện các vấn đề dân số cả về quy mô, cơ cấu, phân bổ và nâng cao chất lượng dân số; từ cách tiếp cận một chiều, giải quyết tình trạng gia tăng quy mô dân số quá nhanh sang tiếp cận tổng thể và đa chiều; điều chỉnh các yếu tố dân số và chính sách phát triển trong mối quan hệ chặt chẽ, tương tác qua lại để phát huy tốt nhất các cơ hội và lợi thế, hạn chế tối đa các khía cạnh không thuận lợi của các yếu tố dân số nảy sinh trong quá trình chuyển đổi nhân khẩu học ở nước ta.

Các cấp ủy, chính quyền cần tích cực thực hiện Kết luận số 119-KL/TW ngày 4-1-2016 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ; xây dựng chính sách dân số cho giai đoạn mới theo nghị quyết số 21 khóa XII năm 2017 đảm bảo tính khoa học để thực hiện thành công công tác dân số trong những năm tới để việc chuyển trọng tâm chính sách DSKHHGD sang chính sách Dân số và phát triển của chúng ta phát huy được sâu sắc và toàn diện hơn.

Thực hiện tốt nghị quyết số 21 khóa XII của Đảng về Công tác Dân số  trong tình hình mới chính là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, chống tư tưởng tự diễn biến, tự chuyển hóa trong mỗi con người.

TS Vũ Thị Hồng Khanh

Khoa Xã hội học &Phát triển

Học viện Chính trị Khu vực 1

Số 15-Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội


[1] Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ Tư Ban CHTW Đảng (khoá VII) về Chính sách Dân số và Kế hoạch hoá gia đình, ngày 14//1/1993

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top