Không chỉ đưa hiện vật lên môi trường số, Bảo tàng tỉnh Ninh Bình đang từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ quản lý, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Từ hồ sơ hiện vật, tư liệu giấy đến hình ảnh 3D và không gian trưng bày trực tuyến, công nghệ đang mở thêm một phương thức lưu giữ di sản lâu dài
Từ hồ sơ hiện vật đến dữ liệu số
Trong hoạt động bảo tàng, mỗi hiện vật không chỉ là một vật thể được lưu giữ mà còn đi kèm nhiều lớp thông tin về nguồn gốc, niên đại, chất liệu, kích thước, hoa văn, tình trạng bảo quản và lịch sử sưu tầm. Khi những thông tin này được chuẩn hóa và số hóa, việc quản lý, tra cứu và khai thác hiện vật có thêm một phương thức mới.

Người dân trải nghiệm, tra cứu dữ liệu hình ảnh 3D tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình
Tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, quá trình này đang từng bước được thực hiện theo hướng hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ công tác chuyên môn. Thay vì chỉ lưu giữ hồ sơ trên giấy, thông tin về hiện vật được cập nhật vào phần mềm, kết hợp với hình ảnh và các dữ liệu liên quan.
Bà Phạm Thị Loan, Phó Trưởng phòng Giáo dục Truyền thông, Bảo tàng tỉnh Ninh Bình cho biết, để số hóa hiện vật, cán bộ chuyên môn trước hết phải chụp ảnh, thu thập các thông tin cơ bản như kích thước, niên đại, đặc điểm hiện vật, sau đó cập nhật, chuẩn hóa và lưu trữ trên phần mềm.
“Chỉ cần đưa mã số hiện vật vào và gõ mã số đó trong phần mềm thì tất cả mọi thông tin hiện vật sẽ hiển thị ra cho chúng ta”, bà Loan thông tin thêm.
Cách làm này giúp giảm thời gian tìm kiếm hồ sơ, đồng thời tạo điều kiện để thông tin về hiện vật được quản lý có hệ thống hơn. Đây cũng là cơ sở để dữ liệu tiếp tục được sử dụng trong nghiên cứu, xây dựng nội dung trưng bày, giáo dục di sản và phục vụ công tác bảo tồn.

Ông Trần Xuân Kiên, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Ninh Bình
Theo ông Trần Xuân Kiên, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, đơn vị đang thực hiện số hóa 27 bảo vật và nhóm bảo vật quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận. Cùng với đó là các bộ sưu tập, nhóm hiện vật có giá trị như cổ vật thời Đinh – Lê, hiện vật đá thời Lý và gốm Hoa Lâu thời Trần.
Đây là những nhóm tư liệu có giá trị nghiên cứu và lịch sử cao. Việc tạo lập dữ liệu số giúp bổ sung thêm một lớp hồ sơ cho hiện vật, qua đó hỗ trợ công tác quản lý và khai thác thông tin trong quá trình nghiên cứu, trưng bày.

Trên website, Bảo tàng giới thiệu các nội dung về hiện vật, di tích, bộ sưu tập, bảo vật và hoạt động nghiên cứu.
Không chỉ hiện vật, các tài liệu bằng giấy cũng được chú trọng số hóa. Với những tư liệu có nguy cơ xuống cấp theo thời gian, việc tạo bản dữ liệu số góp phần hạn chế việc phải tiếp xúc, khai thác trực tiếp quá nhiều lần, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu trữ và nghiên cứu lâu dài.
Công nghệ tạo thêm lớp dữ liệu cho di sản
Một trong những hướng được Bảo tàng tỉnh Ninh Bình triển khai là xây dựng dữ liệu hình ảnh 3D. So với hình ảnh thông thường, dữ liệu 3D cho phép quan sát hiện vật từ nhiều góc độ, đồng thời có thể tiếp tục được sử dụng trong nghiên cứu, trưng bày và các hoạt động giới thiệu di sản.
Hiện Bảo tàng đã xây dựng dữ liệu ảnh 3D cho hàng trăm hiện vật tại các cơ sở. Những dữ liệu này không chỉ phục vụ người xem mà còn có ý nghĩa đối với công tác chuyên môn, bởi hiện vật được lưu giữ dưới dạng dữ liệu trực quan, có thể khai thác trên các nền tảng số.
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh về số hóa và kết hợp in 3D di sản văn hóa vật thể tiêu biểu, Bảo tàng tỉnh Ninh Bình – Cơ sở 3 tổ chức Hội thảo khoa học “Đánh giá mô hình in 3D mẫu di vật tiêu biểu của tỉnh Hà Nam”. Hội thảo tập trung đánh giá các sản phẩm in 3D, góp ý hoàn thiện quy trình số hóa, chất lượng sản phẩm và cơ sở dữ liệu, qua đó phục vụ công tác quản lý, bảo tồn, nghiên cứu, trưng bày và quảng bá di sản
Sau hội thảo, Bảo tàng đã tổ chức tập huấn khai thác, vận hành website và quản lý cơ sở dữ liệu số hóa di sản cho cán bộ, viên chức. Điều này cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo tàng không chỉ là câu chuyện về thiết bị hay phần mềm mà còn liên quan trực tiếp đến năng lực của đội ngũ làm công tác chuyên môn.
Khi cán bộ có thể cập nhật, quản lý và khai thác dữ liệu, hệ thống số mới có khả năng được duy trì thường xuyên thay vì chỉ phục vụ một dự án hoặc một đợt trưng bày.
Song song với số hóa hiện vật, Bảo tàng cũng từng bước xây dựng dữ liệu đối với di tích. Việc mở rộng từ hiện vật sang không gian, công trình và địa điểm gắn với lịch sử, văn hóa tạo điều kiện hình thành hệ thống dữ liệu rộng hơn về di sản Ninh Bình.
Từ dữ liệu chuyên môn đến công chúng
Trên website, Bảo tàng giới thiệu các nội dung về hiện vật, di tích, bộ sưu tập, bảo vật và hoạt động nghiên cứu. Các nền tảng mạng xã hội cũng được sử dụng để giới thiệu thông tin về di sản và hoạt động của Bảo tàng tới nhiều nhóm công chúng khác nhau.
Một số hiện vật được tích hợp mã QR, giúp người tham quan có thể chủ động tiếp cận thông tin bằng thiết bị cá nhân. Đây là lớp ứng dụng trực tiếp từ hệ thống dữ liệu chuyên môn, biến những thông tin vốn nằm trong hồ sơ bảo tàng thành nội dung mà công chúng có thể tiếp cận thuận tiện hơn.
Bảo tàng ảo cũng được xây dựng tại một số cơ sở, mở thêm phương thức tham quan và tìm hiểu di sản trên môi trường trực tuyến. Với hình thức này, không gian bảo tàng không còn hoàn toàn giới hạn trong phạm vi địa điểm trưng bày.

Em Trần Ngọc Thiện, học sinh lớp 10A3 Trường PTTH Mỹ Lộc
Em Trần Ngọc Thiện, học sinh lớp 10 A3, Trường THPT Mỹ Lộc, chia sẻ trải nghiệm khi sử dụng mã QR để tra cứu thông tin trong chuyến tham quan di tích lịch sử. Theo Thiện, thông tin về Chủ tịch Hồ Chí Minh và các địa điểm gắn với Người được cung cấp khá đầy đủ, giúp học sinh tiếp cận lịch sử trực quan, sinh động hơn. “Khi sử dụng mã QR, chúng em có thể dễ dàng tra cứu thông tin, nhanh hơn so với việc phải tự tìm kiếm và gõ từng nội dung theo cách truyền thống”, Thiện chia sẻ.”
Từ góc độ giáo dục, công nghệ cũng tạo thêm phương thức để lịch sử và văn hóa được truyền tải trực quan hơn.
Trong chương trình kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng tổ chức trưng bày chuyên đề “Di sản văn hóa tiêu biểu tỉnh Ninh Bình – Hội tụ và tỏa sáng”. Bên cạnh giới thiệu các giá trị di sản, chương trình kết hợp phim tư liệu và các hình thức tương tác, tạo điều kiện để học sinh tiếp cận lịch sử, văn hóa bằng nhiều phương thức.
Bên cạnh đó, Gameshow “Tổ quốc gọi tên mình”, với chủ đề “Học sinh Ninh Bình – Tiếp nối di sản Cố đô – Tự hào theo chân Bác”, là một trong những hoạt động hướng tới nhóm công chúng trẻ. Công nghệ được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động giáo dục, giúp việc tiếp nhận kiến thức về di sản bớt khô cứng và tăng tính tương tác.
Hình thành “đời sống số” cho di sản
Điểm quan trọng trong chuyển đổi số của bảo tàng không nằm ở số lượng thiết bị hay những ứng dụng riêng lẻ, mà ở việc hình thành được một hệ thống dữ liệu có thể cập nhật, kết nối và sử dụng lâu dài.
Từ một hiện vật trong kho, thông tin có thể được chuẩn hóa thành hồ sơ điện tử, hình ảnh, dữ liệu 3D; sau đó tiếp tục được khai thác cho nghiên cứu, trưng bày, giáo dục và giới thiệu tới công chúng.
Theo hướng này, số hóa tạo ra thêm một “đời sống số” cho di sản. Hiện vật vẫn được bảo quản trong không gian vật lý, nhưng thông tin về hiện vật có thể được tiếp cận rộng hơn thông qua các nền tảng số.
Đây cũng là cơ sở để Bảo tàng tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu, mở rộng số hóa các hiện vật, bảo vật, tư liệu và di tích; đồng thời nâng cao năng lực khai thác dữ liệu của đội ngũ cán bộ.

Bà Phạm Thị Loan, Phó Trưởng phòng Giáo dục Truyền thông, Bảo tàng tỉnh Ninh Bình giới thiệu cách tiếp cận di sản trên môi trường số
Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, giá trị của di sản không chỉ nằm trong những hiện vật đang được trưng bày. Những thông tin được tích lũy, lưu giữ và cập nhật trên môi trường số có thể trở thành nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu, giáo dục, quảng bá và bảo tồn trong thời gian dài.
Với Ninh Bình – vùng đất có hệ thống di sản phong phú – quá trình này mở ra thêm một phương thức để lịch sử và văn hóa được lưu giữ, giới thiệu và tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đạị.
Song Hồng
