Những nhân tố tác động tới thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước trong xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển là một xu thế tất yếu ở Việt Nam hiện nay. Nhà nước kiến tạo phát triển nghĩa là nhà nước chủ động, tích cực tham gia, dẫn dắt, tạo lập, khuyến khích, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bằng cam kết trách nhiệm và uy tín với sự phát triển của mình. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chức năng xã hội của nhà nước trong xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay cũng chịu sự tác động của nhiều nhân tố cả khách quan và chủ quan. Trong bài viết này, tác giả phân tích và luận giải một số nhân tố có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện chức năng này, đó là: toàn cầu hóa; điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; và bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Với tính cách là bộ phận quan trọng nhất của thiết chế chính trị – xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, nhà nước luôn có vị trí và vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội trong các xã hội có giai cấp và nhà nước. Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: ‘‘Ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị; và, sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó’’ [3, tr.253]. Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế – xã hội nước ta có nhiều sự biến đổi sâu sắc và đa dạng thì nhiệm vụ xây dựng và tiếp tục hoàn thiện nhà nước kiến tạo phát triển đáp ứng đòi hỏi mới của thực tiễn xã hội là một việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ trương đúng đắn về xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam đang được triển khai và thực hiện rộng rãi trong toàn bộ các khâu, các quá trình của bộ máy nhà nước ở nước ta. Để nâng cao hiệu quả công tác này, cần nhận diện rõ những nhân tố tác động tới thực hiện chức năng xã hội của nhà nước trong xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay. Việc nghiên cứu những nhân tố tác động đến thực hiện chức năng xã hội của nhà nước trong xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay cần phải quán triệt những nguyên tắc phương pháp luận mác xít như: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, v.v…

NỘI DUNG

  1. Tác động của quá trình toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa là một quá trình làm cho các cộng đồng người, các vùng miền khác nhau từ trạng thái biệt lập, tách rời nhau thành một trạng thái liên kết, gắn bó thành một thể thống nhất hữu cơ trên quy mô toàn cầu. Toàn cầu hóa phản ánh quá trình phát triển với bản chất đặc trưng là xóa mờ dần ranh giới giữa các quốc gia và khu vực trong mối quan hệ kinh tế – xã hội ngày càng chặt chẽ. Khi đó một sự kiện, một hiện tượng, một biến động xảy ra ở cộng đồng, ở vùng, miền này sẽ ảnh hưởng, tác động tới các cộng đồng, vùng, miền khác trên quy mô toàn cầu. Thực chất đây là quá trình các cộng đồng người khác nhau phải quy định, chi phối, nương tựa, cố kết với nhau một cách tất yếu, không chỉ trên quy mô cục bộ, địa phương mà trên quy mô toàn thế giới. Quá trình này diễn ra theo những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Toàn cầu hóa trong giai đoạn hiện nay, mà trước hết là toàn cầu hóa kinh tế là xu thế tất yếu, biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất do phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tích tụ tập trung tư bản, dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất. Có thể nhận thấy, những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới quá trình toàn cầu hóa là: 1) Do sự tiến bộ vượt bậc về công nghệ thông tin liên lạc đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư nên đã khắc phục được mọi giới hạn về khoảng cách trong mối quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội; do sự gia tăng vượt bậc của lực lượng sản xuất do nhu cầu ngày càng tăng của thị trường; do sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt buộc có sự liên kết phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia; 2) Do việc tự do hóa thương mại mà các hình thức tự do kinh tế khác đã khiến phải hạn chế chính sách bảo hộ mậu dịch làm cho mậu dịch thế giới trở nên tự do hơn. Kết quả là nhiều rào cản thuế quan trong buôn bán hàng hóa và dịch vụ bị loại bỏ, các luồng vốn chu chuyển cùng các yếu tố sản xuất ngày càng gia tăng; 3) Do sự mở rộng đáng kể phạm vi hoạt động của các tổ chức kinh tế – xã hội. Trước kia, nhiều công ty chỉ hướng vào các thị trường địa phương nay đã mở rộng khả năng sản xuất và tiêu thụ của mình, bước lên cấp độ quốc gia, đa quốc gia quốc tế thậm chí toàn cầu. Cùng với sự xuất hiện của các công ty độc quyền xuyên quốc gia là hiện tượng giành giật, chiếm lĩnh thị trường thế giới. Giờ đây, các tổ chức như Liên hợp quốc, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Thương mại thế giới đóng vai trò lớn trong việc điều tiết nền kinh tế toàn cầu và đó là những nhân vật chính của nền kinh tế thế giới; và 4) Những vấn đề của thế giới ngày nay như các vấn đề môi trường, hòa bình, khủng bố, v.v… đã mang tính chất toàn cầu đòi hỏi nhiều quốc gia cùng tham gia, cùng quyết định để cùng nhau tồn tại và phát triển.

Mặc dù vậy, muốn hay không thì mọi quốc gia, mọi cộng đồng đều phải tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và mọi chính phủ đều nhận được những cơ hội cũng như phải đối mặt với những thách thức của toàn cầu hóa. Và đương nhiên, việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng phải mang tính quốc tế. Chức năng thống trị chính trị và chức năng xã hội của mỗi nhà nước được thực hiện thông qua đường lối đối nội và đối ngoại của nhà nước tương ứng và đó là hai mặt của một thể thống nhất. Nhà nước thực hiện chức năng đối nội là chủ yếu, bởi vì nhà nước ra đời và tồn tại do cơ cấu giai cấp bên trong của mỗi quốc gia quy định và sự thống trị của mỗi giai cấp được thực hiện trước hết trên địa bàn quốc gia dân tộc. Lợi ích của giai cấp thống trị trước hết và chủ yếu là duy trì địa vị thống trị để bóc lột nhân dân trong nước. Vì vậy, tính chất của đường lối đối nội quyết định tính chất của đường lối đối ngoại, ngược lại tính chất, nhu cầu của đường lối đối ngoại có tác động mạnh mẽ ngược trở lại đối với việc thực hiện đường lối đối nội của nhà nước. Mối liên hệ này càng trở nên mật thiết trong bối cảnh quốc tế hóa đời sống kinh tế – xã hội ngày càng tăng. Việc mở rộng quan hệ quốc tế của nhà nước ngày càng có vị trí quan trọng trong việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước. Nói một cách cụ thể hơn, trong quá trình tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa, để nắm bắt được những cơ hội và giải quyết những vấn đề nảy sinh từ quá trình này, nhà nước buộc phải có sự biến đổi phù hợp cho việc thực hiện chức năng xã hội của mình, đặc biệt trong việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay. Sự biến đổi ấy chịu sự tác động của quy luật: trong thời đại ngày nay, không một quốc gia, dân tộc nào có được sự phát triển mạnh mẽ, nếu không tự đặt mình là một yếu tố của cộng đồng thế giới, nếu không mở rộng mối giao bang quốc tế. Điều này thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, tác động tích cực của toàn cầu hóa tới thực hiện chức năng xã hội của nhà nước trong xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay.

Một là, trước sự tác động của toàn cầu hóa, trước xu thế phát triển của thế giới, đòi hỏi đất nước cần phải tiếp tục đổi mới tư duy, mô hình và thể chế phát triển, do đó phải tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và phương thức – cơ chế hoạt động của Nhà nước. Do đó, đây cũng là động lực để nhà nước buộc phải điều chỉnh, đổi mới, sáng tạo và thực hiện tốt hơn chức năng xã hội của mình. Điều này cũng thể hiện rõ trong hiến pháp năm 2013 được ban hành với mục tiêu bao trùm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là khung khổ pháp lý cho xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay.

Hai là, dưới sự tác động của toàn cầu hóa, không khoảng cách, không biên giới sẽ giúp những nước đang phát triển như Việt Nam học hỏi được nhiều bài học từ kinh nghiệm thành công cũng như thất bại của các nước đi trước trong thực hiện chức năng xã hội của nhà nước với việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển. Bên cạnh đó, tinh thần quyết tâm xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển được sự đón nhận và ủng hộ rộng rãi trong các tầng lớp xã hội, đều có mong muốn và khát vọng đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Thứ hai, bên cạnh những tác động tích cực thì việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước trong việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển cũng chịu những tác động tiêu cực nhất định do toàn cầu hóa mang lại.

Một là, về phương diện chính trị – xã hội: Các quốc gia đang phát triển phải đối mặt với quá trình dân chủ hoá mạnh mẽ, vị thế của xã hội ngày càng được củng cố và bắt đầu “tạo ra những tiền đề cho một số lớn dân chúng sử dụng những quy trình, thể chế chính trị để đòi hỏi quyền lợi của mình” [2, tr.115]. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng xã hội của mình phải đáp ứng những yêu cầu đa chiều đó thông qua việc tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế kết hợp với công bằng, phát triển bền vững. Ở nước ta hiện nay vẫn còn có những khó khăn trong việc chế định hợp lý, hiệu quả vai trò và mức độ can thiệp của Nhà nước trong quan hệ với thị trường và xã hội trong những điều kiện cụ thể, trong việc xử lý mối quan hệ giữa tăng cường kỷ cương phép nước, thượng tôn pháp luật với phát huy dân chủ trong toàn xã hội, thu hút rộng rãi các lực lượng xã hội vào phát triển và quản lý phát triển.

Hai là, về phương diện quản trị: Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển với các nhà cầm quyền kỹ trị đòi hỏi phải thay đổi phương thức quản trị nhà nước từ sử dụng mệnh lệnh – cai trị sang một nền quản trị dân chủ tham gia, nhà nước đổi mới theo hướng công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm cao như một số nước phát triển trên thế giới đã thực hiện. Việc thiếu một hệ thống quản trị kết nối có hiệu quả giữa bộ máy nhà nước với người dân, thiếu niềm tin của người dân vào bộ máy và hoạt động của nó, thiếu tính trách nhiệm của bộ máy và công chức, bệnh quan liêu, tập trung thái quá, áp dụng các quy tắc cứng nhắc sẽ là nguy cơ khiến cho quản trị quốc gia kém hiệu quả. Do đó, việc đáp ứng đầy đủ các yếu tố đó ở Việt Nam hiện nay sẽ rất khó khăn và phức tạp. Hơn nữa, tư duy phát triển sáng tạo trong sự lãnh đạo và quản lý đất nước ở nước ta dưới một góc độ nào đó còn có biểu hiện của sự chưa theo kịp với những yêu cầu phát triển của đất nước và những bước phát triển, thay đổi nhanh và mạnh của thế giới; chưa có sự chuyển biến mạnh và đồng bộ về nhận thức trong cả hệ thống chính trị về xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển. Bên cạnh đó, còn một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu nhà nước kiến tạo phát triển.

Ba là, về phương diện văn hoá: Xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở nước ta phải đối mặt với những vấn đề không mong muốn mà toàn cầu hoá đem lại như sự suy thoái các giá trị đạo đức, sự xói mòn các giá trị văn hoá, những mặt trái của kinh tế thị trường, v.v… dẫn đến việc các nhà nước phải đồng thời lo phát triển kinh tế với xây dựng, phát triển các giá trị văn hoá phù hợp với nhu cầu phát triển, để chúng ta ‘‘hòa nhập nhưng không hòa tan’’.

Bốn là, về phương diện kinh tế: Liên quan đến khía cạnh tăng trưởng kinh tế phục vụ cho việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, các rào cản được thể hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta như “các ràng buộc về quy định và luật pháp, đút lót, hối lộ, tham nhũng; bạo lực hay đe dọa bạo lực; những hành động phá hoại; các cuộc đình công của người lao động, v.v…” [1, tr.129].

Năm là, về phương diện thể chế: Dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, để xây dựng thành công nhà nước kiến tạo phát triển thì vấn đề thể chế ở mỗi quốc gia đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng là rất quan trọng.  Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã chỉ ra đây là một trong ba khâu đột phá. Muốn phát triển nhanh và thực hiện các chức năng xã hội của nhà nước tốt thì chúng ta phải có một thể chế tốt. Chất lượng thể chế chưa tốt ở Việt Nam cũng là một rào cản khá phổ biến và cộng hưởng với các yếu tố khác làm ảnh hưởng tiêu cực đến xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển. Vì vậy, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng “thể chế là nguyên nhân quan trọng nhất (có thể là duy nhất) cho một quốc gia thịnh vượng hay lụn bại” [1, tr.130]. Nhà nước lại là chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thiết kế thể chế nhằm thúc đẩy hoặc cản trở các quá trình phát triển của quốc gia đó.

Nhìn chung, toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu khách quan của lịch sử nhân loại. Trong quá trình xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển hay trong việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay cũng không thể không bị chi phối bởi yếu tố này ở cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực. Vấn đề đặt ra là làm sao chúng ta khai thác tốt mặt tiêu cực và khắc phục tối đa những yếu tố tiêu cực. Để làm được điều này, phải đòi hỏi có sự chung tay góp sức của cả hệ thống chính trị cũng như của tất cả mọi người dân, đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

  1. Tác động của điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam giai đoạn hiện nay

Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế – kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thì mục tiêu xây dựng một xã hội mới xã hội chủ nghĩa là khát vọng, là mục tiêu lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam. Những người cộng sản Việt Nam đã luôn trăn trở tìm tòi học hỏi, vừa làm vừa rút kinh nghiệm để tìm ra được mô hình, cách thức xây dựng xã hội chủ nghĩa phù hợp với đất nước mình. Tuy nhiên, trong quá trình tìm kiếm họ cũng đã gặp những khó khăn khách quan, bị những vấp váp, sai lầm chủ quan cản lối. Song, tất yếu lịch sử đã làm lộ ra con đường phải đi cho một Đảng anh dũng, quả cảm dám làm, dám chịu, dám thẳng thắn chỉ rõ và tự khắc phục những sai lầm, khuyết điểm của mình và khẳng định rằng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước đi phù hợp với giai đoạn lịch sử trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Theo mô hình kinh tế này, Việt Nam đã xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp đã tồn tại đến cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức nền kinh tế một cách đặc thù, vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của xã hội chủ nghĩa. Đó là một kiểu tổ chức kinh tế- xã hội trong đó quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng gắn với thị trường, được thực hiện thông qua thị trường, dưới sự quản lý và điều tiết của nhà nước Việt Nam. Điều này đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [5, tr.128-129]. Đây là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của các nước đi sau. Điều đó cho phép các nước này giảm thiểu được những đau khổ và rút ngắn được con đường đi của mình đến chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở sử dụng được những ưu thế cũng như hạn chế được những khuyết điểm của hai mặt đối lập biện chứng: chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường.

Có thể nhận thấy, bên cạnh những mặt tích cực của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nó cũng tồn tại những khía cạnh tiêu cực cần được khắc phục như: 1) Kinh tế thị trường vốn có xu hướng tự phát tư bản chủ nghĩa; 2) Kinh tế thị trường thúc đẩy phân hóa giàu nghèo, chạy theo lợi ích vật chất, hạ thấp giá trị văn hóa, đạo đức, v.v…

Để khắc phục được những hạn chế này thì không còn cách nào khác là Đảng Cộng sản phải tăng cường sự lãnh đạo và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải nâng cao vai trò quản lý trên mọi lĩnh vực trong việc thực hiện chức năng xã hội của mình trong việc xây dựng nhà nước kiến tạo, phát triển. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò quản lý của nhà nước chính là tăng cường sự tác động của chính trị xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế thị trường để thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Và đó chính là quá trình thúc đẩy mâu thuẫn biện chứng quyết định sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hai mặt đối lập biện chứng của muân thuẫn đó là chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường. Muốn vậy, Đảng phải tự chỉnh đốn, hoàn thiện nhất là đổi mới phương thức lãnh đạo và cầm quyền theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới; Nhà nước phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, phải cải cách hành chính cho phù hợp với yêu cầu, quy luật của kinh tế thị trường. Đó chính là những nội dung cần thực hiện một cách nghiêm túc trong khi Đảng thực hiện sứ mệnh lãnh đạo và nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế – xã hội. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, trên lĩnh vực kinh tế: Trung tâm của công cuộc đổi mới là đổi mới kinh tế. Thực chất của quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta vừa qua chính là thừa nhận sự tồn tại khách quan của quan hệ hàng hóa – tiền tệ và cơ chế thị trường. Theo đó, vai trò của nhà nước cũng có sự thay đổi căn bản. Đó là quá trình chuyển đổi nhà nước từ trạng thái độc quyền sang trạng thái mới trong đó tồn tại quan hệ giữa nhà nước và thị trường, giữa nhà nước và doanh nghiệp, nhà nước và nhân dân trong các hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Cụ thể là: Nếu trước đây nhà nước là chủ thể của chế độ sở hữu, thì hiện nay đang giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống đa sở hữu. Nếu trước đây là người trực tiếp sản xuất kinh doanh thì hiện nay là ‘‘tổng đạo diễn’’ cho quá trình đó. Nhà nước hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, đồng thời điều tiết vĩ mô quá trình đó. Điều đó thể hiện rõ ở những thay đổi trong chức năng cơ bản nhà nước về kinh tế.

Thứ hai, trên lĩnh vực xã hội: Nhà nước cần giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng vào việc phát triển và lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới. Cụ thể là: cần tạo ra nhiều việc làm, cải thiện điều kiện làm việc, chăm sóc y tế, mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội, cải cách cơ bản chế độ tiền lương, tiếp tục thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, chăm sóc những người có công với nước, giữ gìn kỷ cương xã hội, phòng chống tội phạm, bài trừ tệ nạn xã hội, đẩy lùi tham nhũng, hối lộ, lãng phí, làm giàu bất chính, v.v…

Thứ ba, trên lĩnh vực văn hóa: Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, ở nước ta đã xuất hiện những cách sống, lối sống thực dụng chạy theo giá trị vật chất và những cách ứng xử vì lợi nhuận; thói đua đòi ăn chơi hưởng lạc xa hoa, lãng phí; nạn tham nhũng, buôn lậu, buôn thần bán thánh, mại dâm, v.v… tràn lan. Hơn nữa, việc gia tăng các sản phẩm văn hóa ngoại lai đã làm một bộ phận trong thế hệ trẻ xao nhãng những giá trị truyền thống kho tàng văn hóa dân tộc. Vì vậy, Nhà nước phải tăng cường vai trò quản lý, định hướng phát triển văn hóa trên mặt trận văn hóa; phải nhận thấy rõ vai trò đích thực của văn hóa với tư cách là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội.

  1. Tác động từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhà nước chuyên chính vô sản là công cụ chuyên chế của giai cấp vô sản để thực hiện nhiệm vụ trấn áp phần tử, lực lượng phản cách mạng và xây dựng chế độ xã hội mới. Theo tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản thiết lập chuyên chính vô sản, nhà nước của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Chuyên chính vô sản là sự thống trị chính trị của giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có sứ mệnh lịch sử xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Giai cấp vô sản phải nắm lấy công cụ chuyên chính ấy để trấn áp các thế lực đi ngược lại lợi ích của nhân dân, để bảo vệ thành quả cách mạng, nhằm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Cần phải khẳng định rằng, xây dựng và tổ chức xã hội mới là nhiệm vụ, chức năng cơ bản nhất của nhà nước vô sản.

Để hoàn thành sứ mạng lịch sử đó, giai cấp công nhân phải liên minh với giai cấp lao động khác. Do vậy, chuyên chính vô sản là một loại liên minh đặc biệt giữa giai cấp công nhân với quần chúng lao động. Nhà nước vô sản là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Do đó, chế độ dân chủ vô sản là chế độ dân chủ theo nghĩa đầy đủ nhất của từ đó. Đó là nền dân chủ bao quát toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, lấy dân chủ trên lĩnh vực kinh tế làm cơ sở. Giai cấp công nhân và nhà nước vô sản không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của mình, mà còn có nghĩa vụ quốc tế, bằng việc giúp đỡ từ mọi phương diện có thể được cho là cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nhà nước vô sản là một nhà nước đặc biệt, nhà nước không còn nguyên nghĩa, là nhà nước ‘‘nửa nhà nước’’ và nó sẽ tự tiêu vong khi những cơ sở kinh tế – xã hội của sự xuất hiện nhà nước mất đi.

Ở Việt Nam, căn cứ vào bối cảnh của thời đại và tình hình, điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ra chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là một hình thức cụ thể, một sự thay đổi linh hoạt, biện chứng của nhà nước chuyên chính vô sản Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Sự thay đổi đó là tất yếu khách quan, bởi vì để xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, chúng ta phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và buộc Nhà nước chuyên chính phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, phải cải cách hành chính cho phù hợp với yêu cầu, quy luật của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, dù có thay đổi đến đâu đi nữa thì Nhà nước đó vẫn là nhà nước chuyên chính vô sản gắn với bản chất của giai cấp công nhân, hay nói cách khác, bản chất của nhà nước vô sản đã quy định bản chất chức năng xã hội của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

KẾT LUẬN

Như vậy, có thể nhận thấy rằng việc phân tích riêng rẽ những nhân tố tác động đến chức năng xã hội của nhà nước trong việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay để thấy rõ tầng bậc và mức độ tác động của chúng trong bối cảnh mới hiện nay là một điều cần thiết. Mặc dù vậy, trong thực tế những nhân tố này không tác động một cách riêng rẽ, đơn tuyến, mà là sự tác động đa tuyến, đa chiều đan xen, kết hợp với nhau trong những điều kiện cụ thể để quy định thực hiện chức năng xã hội của nhà nước trong xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở nước ta hiện nay.

Nguyễn Văn Trường – Nguyễn Lê Thạch

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Phạm Sỹ An (2017), Nhà nước kiến tạo phát triển và các rào cản chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế, bài viết trong Kỷ yếu Hội thảo “Xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển trong thực tiễn Việt Nam”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
  2. Nguyễn Hoàng Anh (2017), “Nhà nước kiến tạo phát triển – Lý thuyết và áp dụng ở Việt Nam”, trong cuốn “Nhà nước kiến tạo phát triển – Lý luận và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam”, Nxb Lý luận chính trị.
  3. Mác và Ph.Ăngghen, (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  4. David Levi-Faur, “States Making & Market Building for the Global South: The Developmental State vs. The Regulatory State?” Jerusalem Papers in Regulation & Governance, Working Paper No.44, July 2012. Người dịch: Ngô Hương – Khoa Luật ĐHQGHN, hiệu đính: Vũ Công Giao, Bùi Tiến Đạt – Khoa Luật ĐHQGHN. Trong sách Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển qua nghiên cứu của các học giả nước ngoài, (2007), Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.
  5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập I.
  6. Vũ Công Giao, (2007), “Nhà nước kiến tạo phát triển – Lý luận và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
  7. Phạm Ngọc Quang, ‘‘Mối quan hệ giữa bản chất giai cấp, chức năng xã hội của nhà nước’’, Tạp chí Triết học, 01/1999.
  8. Richard Boyd and Tak-Wing Ngo, eds (2005), Asian States Beyond The Developmental Perspective, Routledge.

Để lại bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top