Từ chính sách đến thực tiễn: Thêm lực đẩy để doanh nghiệp nhỏ và vừa bứt phá

Theo số liệu công bố trên các kênh thông tin đại chúng, doanh nghiệp tư nhân, khu vực kinh tế tư nhân hiện có hơn 940.000 doanh nghiệp và trên 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 45-50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho phần lớn lực lượng lao động trong nền kinh tế.[1]

Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo việc làm.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực ấy vẫn còn nhiều trăn trở. Không ít doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, doanh nghiệp của người khuyết tật và sử dụng lao động người khuyêt tật vẫn gặp khó trong tiếp cận vốn, chuyển đổi số, nâng cao năng lực quản trị hay tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Khoảng cách giữa chính sách và quá trình triển khai trên thực tế vẫn là vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.

Đây cũng là nội dung được nhiều đại biểu, chuyên gia và doanh nghiệp trao đổi tại Hội nghị “Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh – Góc nhìn pháp luật và thực tiễn” do Cục Pháp luật Dân sự – Kinh tế (Bộ Tư pháp) chủ trì, giao Trung tâm Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phối hợp với Tạp chí điện tử Đồng Hành Việt tổ chức ngày 08/7/2026 tại Hà Nội.

Trong số các tham luận tại hội nghị, phần trình bày của ông Trần Quốc Nam[2], Giám đốc Doanh nghiệp xã hội SafeViet, thu hút sự quan tâm của nhiều đại biểu khi nhìn thẳng vào những thuận lợi, khó khăn và thách thức mà doanh nghiệp của người khuyết tật cũng như sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật đang đối mặt. Không dừng lại ở nội dung tham luận, những trao đổi thêm với phóng viên Tạp chí điện tử Đồng Hành Việt sau hội nghị đã được vị doanh nhân có nhiều năm kinh nghiệm đồng hành cùng các chương trình sinh kế cho người khuyết tật bóc tách sâu hơn những câu chuyện từ thực tế, nơi khoảng cách giữa văn bản chính sách và đời sống doanh nghiệp vẫn còn những khoảng trống…

Doanh Nghiệp

Ông Trần Quốc Nam – người có nhiều năm kinh nghiệm, chuyên gia tư vấn nhiều chương trình sinh kế, lao động việc làm, hướng nghiệp… cho người khuyết tật (ảnh nhân vật cung cấp)

Chính sách đang tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp phát triển

Theo ông Trần Quốc Nam, bối cảnh phát triển của khu vực doanh nghiệp hiện nay ngày càng có nhiều điểm thuận lợi hơn so với trước đây. Cùng với việc đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nhiều chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước đã khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, tạo thêm niềm tin và động lực để cộng đồng doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất.

Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy và định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân, khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy quản lý, chuyển từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản, quyền cạnh tranh bình đẳng; đồng thời tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định và dễ dự báo để doanh nghiệp yên tâm đầu tư lâu dài. Đây cũng là nền tảng chính trị quan trọng để các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp tục được hoàn thiện và triển khai hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Song hành với đó là việc tiếp tục triển khai Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020… cùng nhiều chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Những chính sách này đang từng bước hình thành hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp phát triển theo hướng minh bạch, hiện đại và hội nhập.

Ở góc độ doanh nghiệp, điều đáng ghi nhận không chỉ nằm ở việc ban hành thêm các chính sách mới mà còn ở định hướng xuyên suốt về xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là những yếu tố có ý nghĩa đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa – nhóm doanh nghiệp vốn chiếm tỷ trọng lớn nhưng khả năng chống chịu trước biến động thị trường còn hạn chế.

Cũng theo ông Nam, nếu trước đây nhiều doanh nghiệp chỉ tập trung duy trì hoạt động ổn định thì nay đã chủ động hơn trong việc đầu tư công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Các chương trình hỗ trợ về chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực hay hỗ trợ pháp lý đã từng bước tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị.

Ngoài yêu cầu chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp còn phải thích ứng với các tiêu chuẩn về chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, trách nhiệm xã hội, truy xuất nguồn gốc và các yêu cầu ESG (bộ tiêu chuẩn sử dụng để đo lường các yếu tố liên quan đến phát triển bền vững của doanh nghiệp) đang trở thành xu hướng trong thương mại toàn cầu. Đây vừa là áp lực nhưng cũng là cơ hội để doanh nghiệp đổi mới mô hình phát triển theo hướng bền vững hơn.

Tuy nhiên, theo ông, chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được triển khai đồng bộ và doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách thuận lợi.

“Từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy nhiều chính sách rất đúng và rất cần thiết. Điều doanh nghiệp mong muốn là các chính sách đó được thực thi thống nhất, giảm bớt các thủ tục trung gian và đến được với doanh nghiệp nhanh hơn, thuận lợi hơn”, ông Nam chia sẻ.

Một điểm đáng chú ý trong tham luận của ông Trần Quốc Nam là cách tiếp cận dưới góc độ phát triển bao trùm. Theo ông, chủ trương phát triển kinh tế tư nhân không chỉ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp quy mô lớn mà còn mở ra không gian phát triển đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xã hội, hợp tác xã cũng như doanh nghiệp do người khuyết tật làm chủ và các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật. Đây đều là những chủ thể của khu vực kinh tế tư nhân, cần được tiếp cận bình đẳng với các cơ chế, chính sách hỗ trợ về vốn, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực và mở rộng thị trường theo đúng tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Thực tế cho thấy, phần lớn doanh nghiệp của người khuyết tật hiện nay đều có quy mô nhỏ hoặc siêu nhỏ. Không ít doanh nghiệp được hình thành từ nhu cầu tạo việc làm cho chính người khuyết tật và những lao động yếu thế, vì vậy khả năng tích lũy nguồn lực còn hạn chế. Khi các chính sách hỗ trợ về tín dụng, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực hay kết nối thị trường được triển khai hiệu quả, nhóm doanh nghiệp này cũng sẽ có thêm điều kiện để phát triển, góp phần tạo việc làm bền vững và giảm gánh nặng an sinh xã hội.

Chính vì vậy, ông Nam nhận định phát triển doanh nghiệp của người khuyết tật không nên chỉ nhìn dưới góc độ nhân văn hay trách nhiệm xã hội. Quan trọng hơn, đây là một bộ phận của khu vực kinh tế tư nhân và cần được tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực phát triển. Khi rào cản được tháo gỡ, doanh nghiệp của người khuyết tật hoàn toàn có thể tạo ra giá trị kinh tế, mở rộng cơ hội việc làm và đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung.

Ông Trần Quốc Nam phát biểu tại Hội nghị "Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh - Góc nhìn pháp luật và thực tiễn" (ảnh nhân vật cung cấp)

Ông Trần Quốc Nam phát biểu tại Hội nghị “Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh – Góc nhìn pháp luật và thực tiễn” (ảnh nhân vật cung cấp)

Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn

Bên cạnh những tín hiệu tích cực từ môi trường chính sách, ông Trần Quốc Nam cho rằng cộng đồng doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt với nhiều “điểm nghẽn” khiến khả năng tận dụng các cơ hội phát triển chưa đạt như kỳ vọng.

Theo ông, khó khăn đầu tiên và cũng là vấn đề được nhiều doanh nghiệp phản ánh nhất vẫn là khả năng tiếp cận nguồn vốn.

Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý tưởng kinh doanh, có thị trường tiêu thụ, thậm chí có đơn hàng, nhưng vẫn gặp khó khi tiếp cận tín dụng. Nguyên nhân có thể do thiếu tài sản bảo đảm hay hệ thống kế toán chưa đáp ứng yêu cầu, hồ sơ tín dụng chưa đầy đủ. Trong khi đó, các tổ chức tín dụng cũng phải cân nhắc rủi ro và chi phí thẩm định đối với các khoản vay có giá trị nhỏ, dẫn đến việc không ít doanh nghiệp phải tự xoay xở nguồn vốn hoặc chấp nhận thu hẹp quy mô sản xuất.

Đồng thời, không chỉ khó khăn về vốn, phần lớn doanh nghiệp vẫn có quy mô sản xuất nhỏ, năng lực tài chính và quản trị còn hạn chế, công nghệ chậm đổi mới nên sức cạnh tranh chưa cao. Bên cạnh đó, việc thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực công nghệ và quản trị, cùng áp lực gia tăng của chi phí nguyên vật liệu, logistics, lao động, bảo hiểm và chi phí tuân thủ pháp luật đang tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp.

Một điểm nghẽn khác cũng được vị Giám đốc doanh nghiệp xã hội này chỉ ra là chuyển đổi số. Theo ông, đây vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Mặc dù nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của chuyển đổi số đã có nhiều thay đổi, song việc triển khai trên thực tế vẫn còn chậm. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ chưa có đội ngũ nhân sự chuyên trách về công nghệ, thiếu nguồn lực đầu tư cho phần mềm quản trị, thương mại điện tử hay ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Không ít doanh nghiệp vẫn xem chuyển đổi số là khoản chi phí phát sinh, thay vì một khoản đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh trong dài hạn. Chính vì vậy, khả năng tiếp cận thị trường và thích ứng với các yêu cầu mới của quá trình hội nhập càng khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó trong duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Chia sẻ về nội dung hỗ trợ về tài chính, ông cho biết doanh nghiệp cần được đồng hành nhiều hơn trong tư vấn, đào tạo và chuyển giao giải pháp phù hợp với quy mô của mình. Chuyển đổi số sẽ chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp hiểu rõ mình cần bắt đầu từ đâu và đầu tư như thế nào để tránh lãng phí.

Bên cạnh đó, yêu cầu ngày càng cao của thị trường về tiêu chuẩn chất lượng, chuyển đổi xanh, truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội cũng đang đặt ra không ít thách thức đối với khu vực DNNVV. Đây là xu hướng tất yếu, nhưng nếu thiếu sự hỗ trợ về thông tin, công nghệ và nguồn lực, nhiều doanh nghiệp sẽ khó tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế.

Nếu những khó khăn trên chủ yếu xuất phát từ nội lực của doanh nghiệp thì quá trình phát triển trong bối cảnh mới cũng đặt ra nhiều thách thức khách quan – Ông Nam khẳng định.

Ví như một vấn đề được nhiều đại biểu đề cập tại hội nghị là khả năng tiếp cận chính sách. Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng nắm được đầy đủ các chương trình hỗ trợ hiện hành. Ở một số địa phương, việc triển khai còn thiếu đồng bộ; công tác hướng dẫn, tư vấn chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều này khiến không ít chính sách tuy đã được ban hành nhưng hiệu quả thụ hưởng còn hạn chế.

Ông Nam nhấn mạnh rằng: Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần được nhìn nhận theo hướng thiết thực hơn, không chỉ dừng ở việc phổ biến quy định của pháp luật mà phải đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình tổ chức thực hiện, từ tư vấn hợp đồng, lao động, thuế, sở hữu trí tuệ đến quản trị rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Ở góc độ phát triển bao trùm, những khó khăn của khu vực DNNVV cũng chính là những rào cản mà doanh nghiệp của người khuyết tật đang gặp phải. Phần lớn các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế nên càng cần được tiếp cận bình đẳng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Dẫn chứng thêm vấn đề này, ông Trần Quốc Nam – người có hơn 20 năm nghiên cứu, tư vấn và đồng hành với các chương trình việc làm dành cho người khuyết tật cũng như các doanh nghiệp sử dụng lao động là người khuyết tật đã dẫn một số liệu trong báo cáo về tác động kinh tế của việc người khuyết tật không được tham gia thị trường lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Báo cáo chỉ ra rằng việc loại trừ người khuyết tật khỏi thị trường lao động có thể gây tổn thất kinh tế từ 3% đến 7% GDP ở các quốc gia đang phát triển; riêng với Việt Nam, nghiên cứu ước tính mức thiệt hại khoảng 3% GDP mỗi năm.

Ông Nam cho biết thêm con số này không chỉ phản ánh một thiệt hại về kinh tế mà còn cho thấy sự lãng phí nguồn nhân lực. Người khuyết tật hoàn toàn có khả năng lao động, khởi nghiệp và điều hành doanh nghiệp nếu được tạo điều kiện tiếp cận giáo dục, đào tạo nghề, công nghệ, nguồn vốn và môi trường làm việc phù hợp.

“Phát triển doanh nghiệp của người khuyết tật không đơn thuần là câu chuyện an sinh xã hội. Đó còn là đầu tư cho tăng trưởng. Mỗi cơ hội việc làm được tạo ra cho người khuyết tật là thêm một nguồn lực được khơi thông, thêm một giá trị được tạo ra cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế”, ông Nam nhấn mạnh.

Ông Trần Quốc Nam thường xuyên là “chuyên gia” tư vấn, hướng nghiệp cho lao động là người khuyết tại các phiên giao dịch việc làm, chương trình tuyển dụng… (ảnh do nhân vật cung cấp)

Để chính sách thực sự đi vào cuộc sống

Từ những phân tích tại hội nghị và thực tiễn đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhiều năm qua, ông Trần Quốc Nam cho rằng điều cộng đồng doanh nghiệp mong muốn hiện nay không phải là có thêm thật nhiều chính sách mới, mà là những chính sách đã ban hành được triển khai hiệu quả, thống nhất và dễ tiếp cận hơn.

Theo ông, trước hết cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện tiếp cận các chương trình hỗ trợ, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và doanh nghiệp mới thành lập. Song song với đó là nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV; nghiên cứu mở rộng các mô hình đánh giá tín dụng dựa trên dữ liệu số, ứng dụng công nghệ tài chính, ngân hàng số và các nền tảng định danh điện tử nhằm tạo thêm cơ hội tiếp cận vốn cho doanh nghiệp mà không quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp như hiện nay.

Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị. Theo ông Nam, chuyển đổi số hay chuyển đổi xanh sẽ khó mang lại hiệu quả nếu doanh nghiệp chỉ được hỗ trợ về kinh phí mà thiếu tư vấn, đào tạo và đồng hành trong quá trình triển khai. Chính vì vậy, các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế theo hướng “đo ni đóng giày”, phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động và mức độ sẵn sàng của từng nhóm doanh nghiệp.

Đối với công tác hỗ trợ pháp lý, ông Nam đề xuất cần đổi mới phương thức triển khai theo hướng chủ động hơn, cần đưa hoạt động tư vấn đến gần doanh nghiệp thay vì chờ doanh nghiệp tìm đến. Bên cạnh việc phổ biến quy định của pháp luật, cần phát triển các kênh tư vấn trực tuyến, xây dựng cơ sở dữ liệu pháp lý dễ tra cứu, đồng thời phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp và cơ quan báo chí trong việc kết nối thông tin, phản ánh kịp thời những khó khăn phát sinh từ thực tiễn.

Riêng đối với doanh nghiệp của người khuyết tật, theo ông Trần Quốc Nam, càng cần có các chương trình hỗ trợ phù hợp về đào tạo kỹ năng quản trị, chuyển đổi số, tiếp cận tín dụng và kết nối thị trường… Đây không phải là cơ chế ưu tiên riêng cho một nhóm doanh nghiệp mà là tạo điều kiện để mọi chủ thể kinh doanh có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực phát triển, đúng với tinh thần phát triển bao trùm mà Đảng và Nhà nước đang hướng tới.

Thay lời kết

Từ những phân tích thực tiễn của ông Nam cùng một số nội dung được trao đổi tại hội nghị có thể thấy, khi những “điểm nghẽn” về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực quản trị và tiếp cận pháp luật từng bước được tháo gỡ, doanh nghiệp sẽ có thêm điều kiện để đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh. Trong dòng chảy đó, doanh nghiệp của người khuyết tật cũng cần được nhìn nhận là một bộ phận của khu vực kinh tế tư nhân, có quyền tiếp cận bình đẳng với các chính sách hỗ trợ và có khả năng đóng góp thiết thực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và phát triển bền vững.

Nhìn rộng hơn, hiệu quả thực thi chính sách không nằm ở số lượng văn bản được ban hành, mà ở mức độ doanh nghiệp có thể tiếp cận, thụ hưởng và chuyển hóa chính sách thành động lực phát triển. Khi những rào cản được tháo gỡ, nguồn lực được khơi thông, chính sách mới thực sự trở thành bệ đỡ để doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có doanh nghiệp của người khuyết tật, tự tin phát triển và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.

Trên thực tế, sự đồng hành thực chất giữa Nhà nước và doanh nghiệp chính là một trong những nền tảng đặc biệt quan trọng để các chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả, trở thành động lực thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.

Do vậy, không phải chỉ là tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, mà quan trọng hơn là bảo đảm các chính sách ấy được thực thi hiệu quả, đến đúng đối tượng và phát huy giá trị trong thực tiễn. Chỉ khi đó, những chủ trương lớn về phát triển kinh tế tư nhân mới thực sự trở thành động lực để cộng đồng doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ hơn, đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển của đất nước.

Lâm An

[1] Số liệu được công bố trên nhiều bài báo năm 2025

[2] Ông Nam từng là cộng tác viên, chuyên gia tư vấn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), RI, RCI (Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Hòa nhập – Research Center for Inclusion), Angels’ Haven… cùng nhiều chương trình tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp tại các phiên giao dịch việc làm có tuyển dụng lao động là người khuyết tật

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang